Một nghiên cứu bằng lịch sử nhà ở

Loveless là nghiên cứu của Dogma về lịch sử nhà ở tối thiểu, được giới thiệu trong bối cảnh triển lãm Home Futures tại Design Museum ở London năm 2018 và phát triển thành ấn phẩm năm 2019. Đây không phải một khu nhà ở do Dogma xây dựng. Dự án tập hợp các trường hợp lịch sử, bản vẽ và cách tổ chức đời sống từ nhiều thời kỳ để xem xét mối quan hệ giữa không gian riêng và những hoạt động chung hỗ trợ nó.

Từ nhà tu, nhà trọ đến khách sạn cư trú và căn hộ nhỏ, các ví dụ cho thấy phòng ở có diện tích hạn chế có thể tồn tại trong những hoàn cảnh rất khác nhau. Một phòng nhỏ không tự nói lên người ở có tự do hay bị hạn chế, sống thuận tiện hay thiếu thốn. Dogma đưa tổ chức sở hữu, cách làm việc nhà và điều kiện lao động vào cùng việc đọc mặt bằng. Bộ nghiên cứu gồm năm mươi trường hợp, thay vì đề xuất một mẫu căn hộ duy nhất để áp dụng ở mọi nơi.

Dogma tái dựng một đơn vị ở tại tu viện Camaldoli.Hình nghiên cứu: Dogma

Cuộc tranh luận về căn nhà nhỏ nhất

Một điểm tựa quan trọng là cuốn The Minimum Dwelling của Karel Teige, xuất bản năm 1932. Teige bàn về vấn đề nhà ở cho người lao động và phê bình cách giải quyết bằng việc thu nhỏ căn hộ gia đình thông thường. Bối cảnh tranh luận có Hội nghị Kiến trúc Hiện đại Quốc tế năm 1929 tại Frankfurt, nơi các kiến trúc sư nghiên cứu những tiêu chuẩn cư trú tối thiểu và tìm cách giảm chi phí thông qua việc giảm kích thước nhà.

Trong cách đọc của Dogma, Teige chuyển trọng tâm từ diện tích một hộ sang quan hệ giữa cá nhân và tập thể. Mỗi người trưởng thành có một phòng độc lập đủ dùng, còn nấu ăn, dọn dẹp và chăm sóc trẻ được tổ chức chung. Vì vậy, cái tối thiểu không chỉ là số mét vuông ít hơn. Nó gắn với việc phần nào của đời sống nằm trong phòng riêng, phần nào được hỗ trợ ở quy mô cộng đồng, và ai thực hiện những công việc duy trì đời sống hằng ngày.

Dogma tái dựng một không gian ở trong Plaza Hotel của Henry J. Hardenbergh.Hình nghiên cứu: Dogma

Phòng tu và căn hộ một người

Nghiên cứu đi ngược về những tổ chức cư trú có phòng riêng bên trong một cấu trúc lớn hơn. Nhà tu cung cấp một trường hợp trong đó không gian của từng người liên hệ với hệ sinh hoạt tập thể. Các bản vẽ lịch sử được đặt cạnh nhau để so sánh cách phòng, lối đi, sân và những bộ phận dùng chung sắp xếp thành một tổng thể. Dogma không coi các trường hợp này đồng nhất về mục đích sống hay quy tắc tổ chức.

Những căn hộ cho một người ở các thời kỳ sau tiếp tục làm rõ sự thay đổi trong quan hệ giữa căn phòng và hộ gia đình. Trong các hình tái dựng, đồ đạc được đưa vào để thể hiện chỗ ngủ, bàn, tủ và cách người ở có thể sử dụng phần diện tích còn lại. Màu và góc nhìn từ trên cao giúp phân biệt các bộ phận, đồng thời giữ khả năng so sánh giữa những ví dụ cách xa nhau về thời gian. Đây là các hình nghiên cứu lại công trình lịch sử, không phải những dự án nguyên gốc do Dogma thiết kế.

Dogma tái dựng đơn vị ở trong Biltmore Hotel của Warren and Wetmore.Hình nghiên cứu: Dogma

Khách sạn cư trú và các câu lạc bộ ở

Thế kỷ XIX đưa vào nghiên cứu những hình thức ở thuê và dịch vụ tập trung tại các đô thị công nghiệp. Khách sạn cư trú không chỉ phục vụ chuyến đi ngắn. Một số người sống lâu dài tại đó vì việc nấu ăn và chăm sóc nhà được tổ chức chuyên nghiệp. Những Home Clubs do các nhóm cư dân góp vốn hình thành cũng xuất hiện trong lịch sử này. Chelsea Hotel của Philip G. Hubert tại New York là một ví dụ được Dogma đưa vào chuỗi khảo sát.

Các mô hình hợp tác cho thấy cách tổ chức kinh tế có thể đi cùng một dạng mặt bằng mới. Cư dân vừa có không gian riêng vừa tham gia cơ chế tập thể. Những dự án nhà không có bếp riêng và các ý tưởng thành phố hợp tác nối vấn đề kiến trúc với cách phân phối lao động gia đình. Trong các trường hợp này, khu vực chung không đơn thuần là phần diện tích thêm vào để gặp gỡ; nó đảm nhiệm những công việc mà một căn nhà khép kín thường giao cho từng hộ tự giải quyết.

Dogma tái dựng phương án nhà tập thể thấp tầng tại Avtostroj của OSA, 1929.Hình nghiên cứu: Dogma
Dogma tái dựng đơn vị nhà ở Gosplan của Moisei Ginzburg và OSA, 1929.Hình nghiên cứu: Dogma

Thử nghiệm nhà ở tập thể thế kỷ XX

Một nhóm ví dụ lớn thuộc các nghiên cứu nhà ở Liên Xô trong thập niên 1920 và đầu thập niên 1930. Dogma phân biệt những phương án tập thể hóa mạnh với những phương án cho phép quan hệ mềm hơn giữa đơn vị riêng và tập thể. Những nghiên cứu của Moisei Ginzburg và nhóm OSA xuất hiện trong mạch này. Đơn vị ở có thể được xem như thành phần độc lập hoặc ghép vào một cấu trúc lớn, thay vì luôn phụ thuộc vào một cách tổ chức duy nhất.

Bản vẽ các đơn vị nhỏ cho thấy giường, bàn, khu vệ sinh và phần sinh hoạt được bố trí theo những cách khác nhau. Một số dự án lịch sử được thực hiện, nhiều dự án chỉ dừng ở nghiên cứu. Việc đặt chúng cạnh nhau không tạo ra một tuyến phát triển liên tục từ cũ đến mới. Nó thể hiện nhiều câu trả lời từng tồn tại cho quan hệ giữa đời sống cá nhân, dịch vụ chung và bộ máy tổ chức cư trú, trong những hoàn cảnh chính trị và kinh tế khác biệt.

Dogma tái dựng đơn vị nhà tập thể của Moisei Ginzburg, 1928–1929.Hình nghiên cứu: Dogma

Những đơn vị nhỏ trong bối cảnh đương đại

Phần sau của Loveless đưa vào các thử nghiệm sau chiến tranh và những hình thức ở chung gần đây. Nhà ở Svartlamoen của Brendeland & Kristoffersen tại Trondheim và nhà ở chung của Naruse Inokuma tại Nagoya là hai trường hợp được nhắc đến. Các ví dụ nối những phòng riêng có giới hạn với không gian tập thể rộng hơn, nơi hoạt động ở và làm việc có thể gặp nhau. Chúng được đặt trong lịch sử dài của căn phòng tối thiểu thay vì tách thành một xu hướng hoàn toàn mới.

Đồng thời, Dogma phân biệt việc tổ chức ở tập thể với việc bán hoặc cho thuê những diện tích ngày càng nhỏ trên thị trường. Trong lập luận của nhóm, cùng một hình thức phòng nhỏ có thể gắn với những điều kiện sở hữu và lao động rất khác nhau. Bộ hình của Loveless giữ các khác biệt đó bằng tên tác giả, niên đại và cách tổ chức từng trường hợp. Toàn bộ dự án tồn tại dưới dạng nghiên cứu, triển lãm và xuất bản, với các bản vẽ tái dựng dùng để đọc lịch sử nhà ở qua những bộ phận cụ thể của đời sống hằng ngày.

Dogma tái dựng nghiên cứu đồ đạc có thể cư trú của Archizoom, 1970.Hình nghiên cứu: Dogma
Đọc thêm +