Một phần của khu đại học trong thành phố

Công trình tại Tweekerkenstraat bổ sung không gian cho Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh của Đại học Ghent. Stéphane Beel và Xaveer De Geyter cùng thiết kế dự án, trong bối cảnh trường có nhiều cơ sở nằm giữa những dãy phố sẵn có. Công trình được đưa vào sử dụng năm 2006; kho ảnh của trường ghi lại lễ mở cửa ngày 29 tháng 9. Các mô hình nghiên cứu thể hiện vị trí giảng đường, các tầng làm việc và đường tiếp cận từ khuôn viên.

Khu vực đại học nằm giữa phía đường có cao độ lớn hơn và vùng đất thấp hướng về sông. Những lối đi, sân và các tòa nhà cũ tạo thành một mạng tiếp cận không hoàn toàn ngay ngắn. Trong nghiên cứu tổng thể của nhóm thiết kế, việc nối những khoảng trống ấy thành tuyến đi xuyên khu trường là một vấn đề quan trọng. Tòa nhà khoa kinh tế nằm trong mạng lưới đó, với lối vào mới hướng về khu nhà thờ Sint-Pieters.

Đổi vị trí của cửa vào chính

Lối tiếp cận cũ từ Hoveniersberg là một đường hẹp có các bậc đi xuống. Phương án mới giữ đường này nhưng chuyển vai trò của nó thành lối phụ. Cửa chính được bố trí về phía đối diện nhà thờ, ở đầu một tuyến đi có thể kết nối các bộ phận khác của trường. Thay đổi này liên quan đến mặt bằng khu đất và địa hình, chứ không chỉ là di chuyển một bộ cửa trên cùng mặt đứng.

Các mô hình cho thấy khoảng trống dưới phần nhà trên cao và những mặt sàn chênh nhau. Người đi không tới một tiền sảnh phẳng duy nhất rồi dừng lại: sân, đoạn dốc, cầu thang và hành lang tiếp tục đưa họ đến những cao độ khác. VAi mô tả sân thấp có nhiều sinh viên sử dụng, gắn với chuỗi không gian quanh giảng đường. Trong các hình nghiên cứu, khoảng rỗng ở chân nhà hiện rõ dưới những tầng có mặt bằng rộng hơn phía trên.

Mô hình nghiên cứu mối liên hệ với các khối nhà bên cạnh.Ảnh mô hình: Hisao Suzuki

Giảng đường sáu trăm chỗ

Giảng đường lớn là một thành phần trung tâm của chương trình, với quy mô khoảng sáu trăm chỗ theo hồ sơ thiết kế. Sàn chỗ ngồi có bậc, tạo ra một mặt cắt dốc khác với những tầng làm việc nằm ngang. Trong mô hình cắt, các hàng bậc chiếm phần giữa, còn những khoảng chuyển tiếp nằm ở cạnh và phía dưới. Hình dạng phòng học vì vậy tác động trực tiếp đến các không gian xung quanh nó.

Phòng lớn này có sảnh đi kèm để tiếp nhận người học trước và sau buổi giảng. Khi lượng người sử dụng tập trung theo giờ, sảnh và các đường tiếp cận là những bộ phận riêng trong chương trình, không phải diện tích thừa giữa các phòng. Mô hình cho thấy nhiều đường nhìn và hướng đi quanh khối giảng đường. Một số đoạn nằm ngoài trời hoặc ở sát khoảng mở, một số đoạn đi vào phần kín của công trình.

Mô hình cắt giảng đường với các hàng ghế bậc.Ảnh mô hình: Hisao Suzuki

Thư viện, lưu trữ và nơi làm việc

Bên cạnh giảng đường, chương trình gồm thư viện khoa, kho lưu trữ, không gian làm việc, phòng họp hội đồng và các bộ phận hỗ trợ. Hồ sơ của văn phòng còn liệt kê những dịch vụ dành cho sinh viên và hoạt động quốc tế. Các chức năng này không có cùng mức độ đông người hay cùng yêu cầu về thời gian sử dụng. Chúng được tổ chức trên những tầng phía trên và quanh vùng không gian lớn ở giữa.

Ở mô hình nhìn từ cao, mặt bằng phía trên được chia thành nhiều ô phòng và những dải đi lại. Trong khi khối giảng đường nhận biết bằng mặt cắt dốc và không gian lớn, các tầng làm việc hiện ra qua nhịp chia nhỏ hơn. Phần nhà trên cao nhô ra so với một số bộ phận ở chân nhà. Khoảng chênh giữa hai đường bao tạo các vùng có mái phía dưới, đồng thời làm rõ sự khác biệt giữa tầng tiếp cận và những tầng sử dụng ở trên.

Các lớp phòng và đường đi trên mô hình nhìn từ cao.Ảnh mô hình: Hisao Suzuki

Đọc không gian qua mô hình cắt

Bộ mô hình không chỉ trình bày hình dáng ngoài của một khối nhà. Một số ảnh đã bỏ đi vỏ ngoài để lộ giảng đường, các bậc ngồi và đường đi vòng quanh. Những ảnh khác giữ phần mái hoặc các tầng trên, cho thấy cách khối nhà gặp những công trình bên cạnh. Vì thế, cùng một dự án được ghi lại ở nhiều mức: tổ chức tổng thể, một phần mặt cắt và các khoảng trống ở tầng thấp.

Vật liệu mô hình dùng những bề mặt sáng, các mảng trong và những cạnh mảnh để phân biệt sàn, tường và chỗ mở. Màu sắc trong mô hình không được xem như bằng chứng chắc chắn về lớp hoàn thiện đã thi công. Điều có thể đọc trực tiếp là vị trí tương đối của các bộ phận: giảng đường ở giữa, các lớp phòng phía trên, khoảng tiếp cận ở dưới và những đường nối tiếp nhau qua chênh lệch cao độ.

Mặt bên mô hình với những cao độ sử dụng khác nhau.Ảnh mô hình: Hisao Suzuki

Giai đoạn thiết kế và công trình sử dụng

Thiết kế được phát triển từ năm 2001, với giai đoạn xây dựng được hồ sơ văn phòng ghi là 2004–2006. Mốc khánh thành trong kho ảnh Đại học Ghent xác nhận thời điểm sử dụng, trong khi mô hình ở đây ghi lại giai đoạn nghiên cứu trước đó. Sự khác biệt giữa hai loại tư liệu được giữ rõ: mô hình thể hiện phương án tổ chức, còn ngày mở cửa thuộc lịch sử vận hành của cơ sở giáo dục.

Công trình tập hợp một phòng học đông người, các khu đọc và làm việc trong khu đất có nhiều cao độ. Những thành phần đó được nối bằng các khoảng chuyển tiếp quanh giảng đường, thay vì chỉ xếp dọc theo một hành lang thẳng. Hồ sơ dự án cho phép theo dõi từ đường phố đến sân thấp, từ sảnh đến phòng học và từ vùng công cộng đến các tầng làm việc, trong một cơ sở đại học nằm giữa thành phố.

Mô hình nhìn từ đầu khối nhà.Ảnh mô hình: Hisao Suzuki
Đọc thêm +