Nhà khách trong khu đất sản xuất
Bungalow Avissawella nằm tại Thalduwa, trên khu đất dốc rộng khoảng một hecta rưỡi từng là đồn điền cao su. Khuôn viên có văn phòng, xưởng chế tạo turbine, nhà cho nhân viên và bungalow ở phía xa. Công trình phục vụ lưu trú cho khách tới khu sản xuất và cơ sở thủy điện liên quan.
Trang danh mục của văn phòng ghi năm 2008. Bài phỏng vấn đăng năm 2011 khi dự án được chọn vào danh sách giải Geoffrey Bawa xác nhận công trình đã tồn tại vào thời điểm đó. Hồ sơ bài viết dùng mốc này để phân biệt với những lần giới thiệu lại dự án trong các ấn phẩm về sau.
Hồ nước ở cuối sườn đất
Phần cuối khu đất trước đây là vùng đất ẩm, sau được đào thành một hồ nhân tạo. Nhà nằm ở vị trí tiếp xúc với mặt nước, thay vì đặt hoàn toàn trên nền khô rồi nhìn tới một hồ xa. Một số phần công trình vươn ra trên hồ, tạo quan hệ gần giữa nơi sinh hoạt và sự thay đổi của nước.
Mặt bằng có hình chữ thập, với hộp kết cấu thép đặt vuông góc lên hai tường đá song song. Tường đá tạo những thành phần đứng rõ, còn các phần vươn làm khối phía trên khác với chân tiếp xúc đất. Địa hình dốc và hồ nước cùng tham gia vào cách bố trí ba tầng của nhà.
Bậc rộng dẫn tới khu ăn
Lối vào là một cầu thang rộng nằm giữa hai tường đá xây thô. Đèn đặt thấp chiếu sáng tuyến này vào buổi tối. Người tới đi lên rồi gặp khu ăn, có sàn xi măng màu vàng nghệ. Phần đầu vào không chỉ là một cửa nhỏ trên mặt đứng mà là một chuỗi bậc và tường có chiều sâu.
Từ khu ăn, bếp ở phía phải, còn phòng sinh hoạt mở một phần ra ngoài nằm phía trái. Các chức năng được định vị tương đối rõ quanh điểm đến của cầu thang. Bản vẽ ghi thêm các phòng phục vụ và phòng bơm, cho thấy hồ nước và không gian lưu trú cùng cần một hệ vận hành bên trong nhà.
Phòng sinh hoạt hướng trên hồ
Phòng sinh hoạt có phần vươn trên mặt nước và được đỡ bằng các cấu kiện xuống vùng hồ. Nó mở ra ngoài nhiều hơn những phòng ngủ phía trên. Mặt nước xuất hiện ở sát sàn, tạo một điều kiện khác với ban công chỉ nhìn xuống sân vườn.
Theo thuyết minh, vào mùa mưa nước hồ có thể dâng tới cao độ dầm dưới sàn phòng sinh hoạt. Chi tiết này mô tả một thay đổi theo mùa tại công trình, không được chuyển thành một cam kết về khả năng chịu mọi mức ngập. Quan hệ giữa sàn, chân đỡ và mặt nước là một phần của cách nhà được đặt ở mép vùng đất ẩm.
Cầu thang gỗ và các tầng trên
Cầu thang dùng gỗ từ tà vẹt đường sắt dẫn lên tầng một và tầng áp mái. Tầng một có phòng ngủ, nơi ngồi và hồ bơi hoàn thiện bằng mosaic xanh có sắc cũ. Những không gian này xếp phía trên vùng tiếp khách ở đầu vào nhưng vẫn tiếp xúc với cảnh quan bên ngoài.
Tầng áp mái hướng về đầu hồi mở. Theo hồ sơ, khoảng này cho phép không khí đi qua và nối không gian dưới mái với cây cối xung quanh. Bản vẽ các tầng còn ghi các phòng xem truyền hình, vệ sinh và sân. Nhà ba tầng vì vậy có những mức độ kín, mở khác nhau từ nơi sinh hoạt chung đến các vùng nghỉ.
Gỗ mít, thép và đá
Gỗ mít được dùng trong công trình, tạo bề mặt có vân và màu khác với đá cùng các cấu kiện sơn đen. Thép sẫm màu làm hệ khung ít nổi bật hơn giữa vùng bóng râm, trong khi tường đá giữ bề mặt thô ở tuyến vào. Đèn bằng thép oxy hóa tiếp tục một cách xử lý vật liệu khác với các bề mặt sơn phẳng.
Mỗi vật liệu gắn với một bộ phận: đá tạo tường dài, thép cho phần khung và hộp vươn, gỗ cho cầu thang và những nơi gần người sử dụng. Khu ăn màu vàng, hồ bơi mosaic xanh và mặt hồ ngoài nhà tạo các vùng nhận biết riêng. Những phần này nằm trong sơ đồ chữ thập ở cuối khu đất, liên hệ với văn phòng, xưởng và nhà nhân viên trong cùng khuôn viên.


