Bảo tàng và khu trường cũ

Bảo tàng Mỹ thuật Castellón nằm trên đại lộ Hermanos Bou tại Castellón de la Plana, Tây Ban Nha. Dự án của Mansilla + Tuñón phát triển sau cuộc thi năm 1995, hoàn thành công trình vào năm 2000 và mở cửa tháng 1 năm 2001. Khu bảo tàng sử dụng một phần của trường Serra Espadá cũ, trong đó có tu viện hành lang và sân cây. Những khối nhà mới được đưa vào cạnh công trình hiện hữu để chứa trưng bày, làm việc và lưu trữ.

Từ đường phố, phần trưng bày xuất hiện như một khối cao gần hình hộp, có mặt kim loại tối và những phần nhô lên ở mái. Tầng thấp có những dải kính, lối vào và mái nối về khu cũ. Các mặt khác ít cửa hơn, với nhịp tấm bao chạy theo những mạch ngang và đứng. Tường của khu trường cũ cùng cây trong sân vẫn có thể thấy cạnh khối mới. Các công năng bảo tàng không tập trung hết vào một khối duy nhất mà phân bố thành nhiều phần có quan hệ qua sân và những tuyến nối.

Tu viện hành lang và cây trong sân cũ của bảo tàng.Ảnh: Hisao Suzuki

Sân tu viện với những cây bách

Sân trong của khu trường cũ là một điểm tổ chức chính của bảo tàng. Hàng hiên có các cung vòm bao quanh mặt lát và cây, trong đó có những cây bách cao. Khối trưng bày mới đứng phía sau một cạnh sân, với những khối lấy sáng và cửa chớp hiện lên trên đường mái của hiên cũ. Ảnh chụp từ sân cho thấy các tỷ lệ khác nhau: vòm thấp ở gần, cây ở giữa và mặt kim loại cao hơn phía sau.

Những phòng làm việc và khu sử dụng không mở thường xuyên cho công chúng nằm trong phần nhà trung tâm quanh sân. Dãy phục chế mới ở phía tây tách khỏi công trình cũ, còn khối trưng bày ở phía đông gắn vào tổ hợp. Kho sưu tập đặt dưới tầng hầm của dãy phục chế, nối khu làm việc với khu trưng bày. Cách chia này giữ sân và hành lang cũ trong một hệ sử dụng mới, đồng thời dành những thể tích riêng cho các yêu cầu bảo quản và phục chế. Người vào bảo tàng đi qua các đoạn nhà thấp trước khi tới hệ phòng nhiều tầng.

Khối trưng bày xếp tầng phía sau dải cửa tầng thấp.Ảnh: Hisao Suzuki

Khối trưng bày năm tầng

Khối chính chứa bộ sưu tập thường trực gồm năm tầng có kích thước mặt bằng tương ứng. Hệ kết cấu sử dụng lưới nhịp chữ nhật. Những mặt sàn được xếp chồng theo cùng đường bao, nhưng khoảng thông hai tầng được đặt ở vị trí khác nhau trên từng tầng. Trên các mặt cắt, những khoảng rỗng tạo thành một chuỗi chuyển dịch qua chiều cao khối nhà. Vì vậy hai tầng có cùng đường bao vẫn có cách chia vùng cao thấp khác nhau.

Từ ngoài, phần hộp kim loại tương đối kín không bộc lộ toàn bộ hệ thông tầng. Một số dải kính và những khối lấy sáng trên mái chỉ ra các vị trí mở. Từ trong, các khoảng rỗng cho phép nhìn sang tầng trên hoặc xuống một vùng trưng bày thấp hơn. Cùng một phòng có thể chứa vùng trần thấp giữa hai bản sàn và một phần cao hơn nằm cạnh. Mặt bằng không đơn giản là các phòng giống nhau lặp lại từ tầng dưới lên tầng trên.

Khoảng thông tầng nối các cao độ trưng bày.Ảnh: Hisao Suzuki

Chuỗi khoảng thông tầng chuyển vị trí

Khoảng thông tầng hai tầng được dịch qua từng cao độ, tạo những hướng nhìn chéo trong chiều sâu và chiều cao nhà. Hồ sơ ghi hai khoảng cao thông thủy chính: khoảng 3,3 mét ở phần giữa hai sàn và khoảng 6,9 mét tại vùng thông tầng. Các con số này đi cùng cấu trúc mặt cắt của khối trưng bày. Khi đứng tại một tầng, người xem có thể nhìn qua một khoảng mở sang phòng có trần cao hơn hoặc thấy mặt dưới của phần sàn phía trên.

Trong ảnh, những lan can gỗ dạng thanh nằm cạnh các mép mở. Tủ trưng bày và vách chia đặt trên sàn gỗ, với các góc nhìn xuyên sang tầng kế bên. Một mảng kính lớn ở trên có thể soi thấy bóng người tại cao độ khác. Những phần thông tầng không tập trung trong một giếng giữa nhà có hình dạng không đổi. Chúng thay vị trí, để tuyến nhìn đi qua nhiều khu của công trình. Ở tầng thấp, chuỗi khoảng mở còn liên hệ với sân bán hầm, đưa ánh sáng vào vùng dưới của khối nhà.

Tủ trưng bày và lối đi trên sàn gỗ.Ảnh: Hisao Suzuki

Các phòng dành cho những loại hiện vật khác nhau

Bộ sưu tập của bảo tàng gồm khảo cổ, dân tộc học, gốm và mỹ thuật. Những phòng trong ảnh có tủ kính dài, bệ rời và các vách để treo tranh hoặc đặt tác phẩm. Một số tủ đặt sát biên phòng, những tủ khác đứng tự do dưới vùng trần cao. Sàn gỗ tiếp tục qua các phần trưng bày, với những dải song ở mép thông tầng. Các vách trắng và cột màu tối chia không gian thành những vùng có kích thước khác nhau.

Chiều cao của hiện vật và đồ trưng bày thường thấp hơn nhiều so với các khoảng mở trên sàn. Vì vậy có thể nhìn qua phía trên tủ để thấy vách, dầm và cửa ở tầng khác. Ở một phòng tranh, các vách trắng đứng trong vùng trần cao, phía trên là dải kính lấy sáng. Trong phòng khảo cổ, tủ kính có ánh sáng bên trong tạo thành những đường thấp trên nền gỗ. Những cách bày này nằm trong cùng một hệ kiến trúc, với lưới kết cấu, khoảng thông tầng và các mặt sàn được giữ liên tục qua nhiều loại sưu tập.

Phòng có trần cao với kính lấy sáng sát mái.Ảnh: Hisao Suzuki

Lấy sáng trên mái và ở cạnh phòng

Các khối trên mái đưa ánh sáng vào phần cao của phòng trưng bày. Từ ngoài, chúng hiện thành những hình hộp có cửa chớp hoặc các lớp thanh. Từ trong, dải kính ở gần trần nằm giữa mặt tường trắng và phần mái cao, có thanh ngang chia nhịp. Những ảnh ở tầng trên cho thấy ánh sáng rơi vào vách và mặt sàn gỗ gần mép phòng. Đèn treo với chao kim loại được đặt ở những vị trí thấp hơn mặt mái.

Ánh sáng còn đi qua các khoảng rỗng chuyển tầng. Một phòng có thể nhận sáng từ phần kính nằm ở cao độ của không gian kế bên, nên vùng thấp không chỉ phụ thuộc vào cửa ngay trên mặt đứng cùng tầng. Các mặt cắt mô tả mối quan hệ giữa những khối sáng trên mái và chuỗi phòng phía dưới. Ở những vùng có tủ kính, ánh sáng nhân tạo bổ sung được tích hợp vào đồ trưng bày.

Các tấm nhôm và cửa chớp trên mặt đứng.Ảnh: Hisao Suzuki

Tấm nhôm đúc trên vỏ ngoài

Mặt bao ngoài sử dụng những tấm nhôm đúc tái chế, lắp trên hệ tường có lớp thông gió. Các tấm tạo một lưới bề mặt với mạch nối rõ, xen các vùng cửa và cửa chớp. Tên bảo tàng được đúc trên một số tấm, liên hệ với cách ghi chữ trên các viên gạch La Mã nằm trong bộ sưu tập. Bề mặt kim loại giữ sắc xám; ở những góc nhìn có nắng, các vùng lồi và mạch tấm phản sáng khác nhau.

Ảnh chi tiết cho thấy các gân nhỏ trên một phần cửa chớp, bên cạnh những tấm phẳng hơn của mặt nhà. Ở vùng mái, phần thanh che nắng hoặc che cửa có cùng màu với lớp vỏ chung, nhưng các lỗ và khe làm bề mặt bớt kín. Chân khối nhà chuyển sang dải cửa có khung sáng và các phần ốp khác. Những lớp này được ghi trong chi tiết mặt đứng, bao gồm hệ neo, tường phía sau và khoảng thông gió. Lớp nhôm không được xem là bộ phận chịu lực chính của cả khối trưng bày.

Khoảng nối giữa hai tầng qua một vùng sàn mở.Ảnh: Hisao Suzuki

Tuyến tham quan và nhóm thực hiện

Các cầu thang, thang máy và lối nối đưa khách qua những tầng trưng bày, trong khi các khoảng thông tầng giữ tầm nhìn giữa chúng. Người xem đi trên các mặt sàn có cùng kích thước tổng thể nhưng gặp những vị trí mở khác nhau. Ảnh nhìn qua mép sàn cho thấy hai cao độ cùng xuất hiện trong một khung hình: vùng gần có sàn gỗ, vùng phía sau có vách, cửa và người đứng ở tầng khác.

Luis Moreno Mansilla và Emilio Tuñón thiết kế bảo tàng cùng nhóm cộng sự; Jaime Prior tham gia tổ chức và chỉ đạo công trình. Alfonso Gómez Gaite phụ trách kết cấu, JG Ingenieros phụ trách kỹ thuật và Grupo Entorno tư vấn mặt đứng. Công trình nhận giải FAD năm 2001. Hệ sử dụng của bảo tàng bao gồm phần công cộng, phần bán công cộng, khu làm việc và kho; các phần nhà mới, sân tu viện và tầng hầm được nối để phục vụ những nhóm hoạt động đó.

Đọc thêm +