Một công trình tạm bên dưới Carpenter Center
Puppet Theater được MOS thiết kế cho một dự án của nghệ sĩ Pierre Huyghe tại Đại học Harvard. Khán phòng nằm dưới Carpenter Center, công trình của Le Corbusier tại Cambridge, Massachusetts. Nó được đặt vào khoảng có mái che của tòa nhà hiện hữu, thay vì chiếm một khu đất riêng. Ảnh nhìn từ bên ngoài cho thấy khối nhỏ nằm giữa cây, nền đất và kết cấu bê tông lớn phía trên. Hai quy mô kiến trúc xuất hiện cùng lúc trong một khung nhìn.
Dự án nghệ thuật gắn với dịp kỷ niệm bốn mươi năm Carpenter Center. Huyghe thực hiện một vở diễn rối và bộ phim mang tên This Is Not a Time for Dreaming. Tháng 11 năm 2004 là mốc giới thiệu tác phẩm tại Harvard. Khán phòng được làm để phục vụ sự kiện đó, nên tính tạm thời nằm ngay trong yêu cầu thiết kế, từ quy mô đến phương pháp lắp dựng.
Kiến trúc trở thành một phần của câu chuyện biểu diễn
Theo hồ sơ chương trình của Carpenter Center, tác phẩm của Huyghe liên hệ quá trình đặt hàng tòa nhà Le Corbusier với chính việc nghệ sĩ chuẩn bị tác phẩm mới. Những nhân vật rối, sân khấu và hình ảnh điện ảnh cùng tham gia kể chuyện. Khán phòng của MOS là nơi người xem tiếp cận phần biểu diễn trong một công trình nhỏ đặt sát kiến trúc được nhắc đến. Vì vậy, vị trí dưới tòa nhà là một điều kiện cụ thể của dự án.
Không gian này không được tổ chức như một nhà hát lớn có nhiều tầng ghế, sảnh rộng và các tuyến hậu đài riêng biệt. Quy mô khoảng 46 mét vuông tạo một phòng xem nhỏ, tập trung về phía sân khấu. Các ảnh chụp cho thấy khán giả ngồi thành nhóm gần nhau. Khu vực biểu diễn sáng ở một đầu phòng, trong khi phần khán giả tối hơn. Những quan hệ quan sát này thuộc cấu hình được ghi lại trong ảnh sự kiện.
Một vỏ lắp từ các tấm nhẹ
MOS dùng các tấm polycarbonate nhẹ, được chuẩn bị trước rồi xếp và bắt bu-lông tại công trường. Hệ tấm tạo nên cả bề mặt bao quanh và hình dáng khối khán phòng. Những đường ghép chia lớp vỏ thành nhiều mảnh có cạnh rõ ràng. Trên bản vẽ khai triển, cấu trúc được trình bày như các phần có thể sản xuất riêng và đưa đến lắp tại vị trí dưới Carpenter Center. Cách làm này phù hợp với yêu cầu dựng một không gian có thời gian tồn tại hữu hạn.
Mặt ngoài không phải bề mặt phẳng trơn. Nó tạo thành một khối có các góc gãy, hơi kéo dài theo chiều phòng xem. Các cạnh tấm thay đổi hướng quanh cửa và phía mái. Trong phối cảnh, mạng đường ghép vẫn đọc được trên toàn bộ khối. Bản vẽ đặt khán phòng cạnh tòa nhà hiện hữu còn cho thấy khoảng trống xung quanh đủ để nhận ra đây là một vật thể được thêm vào, không phải phần tường mới nối liền với kết cấu cũ.
Mặt ngoài phủ rêu và mặt trong phản chiếu
Phía ngoài, các ô trong hệ tấm có lớp rêu phủ. Hồ sơ thiết kế mô tả lớp này tham gia cách âm cho khán phòng. Màu xanh và bề mặt mềm làm khối nhà khác rõ với bê tông phía trên. Ảnh chụp gần cửa cho thấy mạng cạnh tấm còn hiện ra qua lớp phủ, nên hình học lắp ghép không hoàn toàn biến mất. Cửa vào cắt một khoảng sáng trên nền xanh sẫm, tạo điểm nhận biết ở đầu khối.
Bên trong, bề mặt sáng và phản chiếu tạo một trạng thái khác. Các nếp gấp và cạnh tam giác trên lớp vỏ hắt lại ánh sáng từ sân khấu hoặc cửa. Trong ảnh cận cảnh, hình người và kết cấu quanh phòng xuất hiện thành những mảng phản chiếu bị chia nhỏ. Đây là đặc điểm vật liệu nhìn thấy được trong ảnh, không đồng nghĩa khán phòng là một lớp gương phẳng có thể nhìn xuyên hoặc phản chiếu nguyên vẹn toàn bộ cảnh.
Ghế bậc và hướng nhìn ra ngoài
Một ảnh chụp từ phía sân khấu cho thấy những bậc ngồi chạy ngang phòng, nâng dần về phía sau. Ở cuối phòng có một khoảng mở nhìn ra cây. Khi phòng không diễn ra chương trình, ánh sáng ngoài trời đi vào từ phía này và làm rõ hình dạng các bậc. Khi có biểu diễn, góc nhìn đảo lại: khu vực sân khấu thành điểm sáng, còn những hàng người xem nằm dưới phần vỏ tối hơn. Cùng một khối nhỏ có thể được ghi nhận rất khác tùy trạng thái sử dụng.
Các bậc ngồi được đặt trong lớp vỏ thay vì xuất hiện như một bộ ghế rời độc lập. Điều đó làm mặt cắt phòng xem trở thành thông tin quan trọng bên cạnh mặt bằng. Vỏ khán phòng bao lấy người ngồi, còn phần trên có các mặt nghiêng và mạng đường ghép. Kích thước nhỏ khiến khoảng cách giữa người xem, sân khấu và lớp bao quanh đều hiện diện rõ trong ảnh nội thất.
Tư liệu của một không gian có thời hạn
Hồ sơ gồm ảnh công trình tạm, bản vẽ vị trí, phối cảnh và những hình mô tả các mảnh lắp ghép. Mỗi loại tài liệu ghi lại một phần khác nhau: ảnh thể hiện quan hệ với cây và bê tông hiện hữu; bản vẽ giúp xác định hình khối khi nhìn từ trên; chi tiết tấm cho biết phương pháp chế tạo. Tên Puppet Theater được dùng cho cấu trúc khán phòng, còn tên tác phẩm của Huyghe chỉ phần biểu diễn và điện ảnh diễn ra trong bối cảnh ấy.
Năm 2004 trong hồ sơ tương ứng dự án tạm thời tại Harvard. Những ảnh này không được trình bày như hiện trạng một nhà hát còn hoạt động thường xuyên. Trong hệ công trình của MOS, dự án có quy mô nhỏ nhưng cung cấp đầy đủ tư liệu về một quá trình thiết kế cụ thể: đặt khán phòng dưới kiến trúc có sẵn, lắp các tấm nhẹ, phân biệt hai mặt của lớp vỏ và tạo chỗ ngồi hướng về sân khấu.


