Một phương án nhà ở cao tầng năm 2005
no.mad thiết kế phương án 90 căn hộ xã hội tại Durango năm 2005. Hồ sơ được công bố bằng sơ đồ, bản vẽ, phối cảnh và mô hình; những hình này thể hiện giai đoạn thiết kế, không phải ảnh một tòa nhà đã hoàn thành. Địa điểm được ghi tại phố Sasikoa, trong bối cảnh có công viên, những công trình lân cận và các hướng nhìn ra vùng núi. Cách đặt căn hộ trong tháp được nghiên cứu cùng các điều kiện gần và xa đó.
Điểm khởi đầu của phương án là phần phục vụ trong mỗi căn hộ: các bộ phận cần đường cấp, thoát, thông gió hoặc liên hệ với giao thông chung. Thay vì để những bộ phận này nằm rời rạc trong từng mặt bằng, nhóm thiết kế xem chúng như những đơn vị có thể nối thành chuỗi. Sự liên kết của chúng tạo một tổ chức bên trong, trước khi hình dạng cuối cùng của mặt ngoài được xác định.
Chuỗi nhỏ và lõi giao thông đứng
Mỗi loại căn hộ có một chuỗi phục vụ tương ứng với chương trình của nó. Khi tổng số và các loại căn đã được xác định, những chuỗi nhỏ được nối và cuộn quanh lõi thang của tòa nhà. Các sơ đồ minh họa quá trình ghép nối theo chiều cao, thay vì chỉ chồng một tầng điển hình giống hệt nhau. Thuyết minh ví hệ thống với một cấu trúc phân tử có quy tắc nội tại và khả năng kéo dài.
Ở cấp độ căn hộ, cách xếp này tập trung những phần cần kết nối kỹ thuật vào một vùng rõ ràng. Ở cấp độ toàn tháp, nó tạo một đường liên tục quanh lõi đứng. Số tầng và tổng chương trình quyết định đoạn chuỗi được sử dụng. Hệ thống không đồng nghĩa mọi căn có cùng hình hay cùng diện tích; các loại nhà được liên kết với nhau nhưng vẫn có những khoảng ở khác nhau khi gặp phần bao ngoài.
Những phòng nằm giữa chuỗi và mặt đứng
Giữa vùng phục vụ và mặt ngoài là các phòng hướng ra cảnh quan. no.mad gọi chúng là những phòng lọc, vì chúng vừa chứa hoạt động ở vừa tạo quan hệ với ngoài trời. Hình và chiều cao của chúng thay đổi theo vị trí trong tòa nhà. Các sơ đồ cho thấy phần phòng không chỉ là khoảng thừa còn lại sau khi đặt kỹ thuật; nó được xác định cùng hướng nhìn, ánh sáng và liên hệ với các phòng bên cạnh.
Sự khác nhau về cao độ và khoảng nhìn tạo những quan hệ xuyên qua mặt bằng và giữa các tầng. Một căn ở gần công viên có hoàn cảnh khác với căn ở cao, nơi có thể nhìn xa hơn qua các mái nhà. Các phòng được ghép quanh chuỗi phục vụ nên hình dạng thay đổi không bắt buộc kéo toàn bộ hệ thống kỹ thuật đi theo mặt đứng. Hai hệ thống liên quan với nhau nhưng không có cùng đường biên.
Hai khoảng cách nhìn và các loại cửa
Những mặt hướng về vùng núi xa được khoét các khoảng nhìn có chiều sâu. Độ sâu của chúng được xác định theo hướng nhà và công năng phía trong. Ở những phía gần công viên hoặc bị nhà bên cạnh che, lớp vỏ được nghiên cứu để người ở nhìn ra trong khi bớt lộ từ bên ngoài. Những điều kiện này sinh ra nhiều loại lỗ mở, thay vì một mẫu cửa được nhân đều trên cả tháp.
Các phối cảnh cho thấy những mảng kín, ô khoét sâu và cửa nhỏ tạo một mặt ngoài không đều. Sự phân bố có vẻ ngẫu nhiên khi nhìn từ xa, nhưng sơ đồ nối nó với cách xếp căn hộ và điều kiện cảnh quan. Những phần nhìn xa và nhìn gần được thể hiện bằng những loại ranh giới khác nhau. Tại các góc, đường mép khối và sự chuyển hướng của các mặt tiếp tục làm thay đổi cách nhận ra hệ lỗ mở.
Vòng bê tông trong và hệ thép ngoài
Khi mặt bằng và các lỗ mở không xếp thẳng hàng ở mọi tầng, kết cấu cần xử lý các điểm gián đoạn theo chiều đứng. Phương án dùng một vòng bê tông bên trong, gần với đường phát triển của chuỗi phục vụ. Vòng này có các lỗ ở nơi cần đi qua hoặc cần liên hệ thị giác. Nó là phần chịu lực và đồng thời cùng xác định những vùng tương đối ổn định của mặt bằng.
Bên ngoài là một hệ cấu kiện thép được tổ chức bằng hình tam giác để tiếp nhận những thay đổi giữa các tầng. Tấm thép được đánh bóng và phủ bảo vệ tạo bề mặt dự kiến của khối nhà. Hai lớp chịu lực được mô tả nhằm giảm các cột đứng riêng lẻ trong vùng phòng ở. Bản vẽ vì vậy liên hệ trực tiếp giữa cách phân chia công năng, đường truyền lực và khả năng mở rộng những khoảng nhìn xuyên giữa các phòng.
Trình tự xếp căn hộ và hình ảnh toàn tháp
Thuyết minh xác định cách xếp các loại căn theo đường xoắn để cân bằng tổ chức bên trong. Sơ đồ trình bày việc tạo 17 mức tầng, trong khi bộ bản vẽ có các tầng và mặt đứng ở nhiều vị trí của hệ thống. Việc thay đổi căn hộ theo chiều cao xuất hiện cùng sự thay đổi của cửa và khoảng lõm; hình mặt ngoài là phần nhìn thấy được của một tổ hợp đã được nghiên cứu cả ở bên trong.
Mô hình và phối cảnh cho thấy một khối tương đối gọn với nhiều lớp chi tiết trên bề mặt. Ảnh mô hình có thể thấy những khoảng hở và chiều sâu mà bản vẽ mặt đứng chỉ thể hiện bằng nét và mảng. Các tư liệu này giữ nguyên tính chất của một phương án năm 2005: chúng ghi cách nhóm thiết kế dự kiến tổ chức 90 căn hộ, các cấu kiện và những khoảng nhìn, trong khi không cung cấp một bộ ảnh sử dụng sau xây dựng.


