Một trung tâm ở góc phố Melbourne

RMIT Design Hub nằm tại góc đường Swanston và Victoria, ở rìa phía bắc trung tâm Melbourne. Công trình được thiết kế từ năm 2007 và hoàn thành năm 2012, trên một phần khu đất từng thuộc nhà máy bia Carlton and United Breweries. Sean Godsell Architects thực hiện dự án cùng Peddle Thorp Architects. Các mặt đứng quay ra những trục đường có xe điện và người đi bộ, với một sân ngoài trời ở phía tây.

Từ giao lộ, khối nhà cao có hình bao gần như kín bởi một trường các đĩa kính. Phía dưới là những lối vào và phần tiếp xúc với nền phố, còn một khối lưu trữ thấp hơn nằm cạnh sân. Những tòa nhà cũ và mới xung quanh có chiều cao khác nhau. Trong ảnh chụp từ xa, lưới đĩa kính tạo bề mặt sáng đồng đều; khi đến gần, các khung thép, khoảng lùi và ranh từng tầng dần xuất hiện phía sau lớp ngoài.

Mặt đứng đĩa kính nhìn từ phía giao lộ.Ảnh: Hisao Suzuki

Tập hợp các nhóm nghiên cứu thiết kế

Chương trình được lập để đưa những nhóm nghiên cứu thiết kế và đào tạo sau đại học về cùng một địa điểm. Những lĩnh vực được nêu trong hồ sơ gồm dệt may, thời trang, kiến trúc, thiết kế công nghiệp, cảnh quan và đô thị. Trước đó, các hoạt động này được phân bố ở nhiều cơ sở. Công trình vì thế có những không gian làm việc có thể thay đổi theo nhóm, bên cạnh các phòng cần điều kiện sử dụng cụ thể.

Những tầng mở được gọi là các khoang làm việc, nơi nhóm nghiên cứu tự bố trí thiết bị và vị trí. Thời gian sử dụng theo dự án có thể kéo dài từ sáu tháng đến ba năm, tùy chương trình và nguồn kinh phí. Hồ sơ nêu các nhu cầu như làm mô hình, làm việc trên máy tính và in ba chiều. Các phòng dài, phòng hội thảo và khu phụ trợ được đặt trong cùng hệ tầng, để hoạt động không chỉ diễn ra trong một dãy văn phòng chia ô cố định.

Đầu hẹp của tòa nhà và tuyến đường phố.Ảnh: Earl Carter

Sân phía tây và khối lưu trữ

Sân phía tây nằm giữa khối cao và phần lưu trữ, có lối đi bộ nối với những phần đất lân cận. Chương trình ở cạnh sân gồm quán cà phê, triển lãm và lưu trữ thiết kế. Sân không chỉ là một khoảng cách giữa hai khối: các lối vào và đường dốc tiếp xúc trực tiếp với nó. Từ đây, có thể nhìn thấy nhiều lớp của mặt đứng và những cạnh nhà nằm sâu hơn phía phố.

Bản vẽ các cao độ thấp thể hiện không gian trưng bày, đường dốc của khu lưu trữ, sảnh phòng đa năng và cầu thang đi lên sân. Các kho kỹ thuật, khu nhận hàng và những phòng máy được bố trí trong phần dưới. Ở ảnh chụp gần, tường bê tông, nền lát và các đoạn lan can tạo nên tuyến đi. Mức nền sân và mức của một số phòng khác nhau, nên cầu thang và dốc cùng tham gia tổ chức các ngưỡng tiếp cận công trình.

Đường dốc trong phần công trình ở các cao độ thấp.Ảnh: Earl Carter

Triển lãm và không gian dành cho công chúng

Triển lãm cùng lưu trữ thiết kế tạo phần tiếp xúc công khai của trung tâm với người xem và các hoạt động nghề nghiệp. Các phòng hội thảo, diễn thuyết và đa năng được đặt cạnh những lối đi, sảnh và phần phụ trợ. Trong hồ sơ mặt bằng, hai phòng triển lãm được ghi riêng, với các khoảng rộng không có nhiều cột giữa phòng. Những không gian này nằm trong chương trình chung của cơ sở nghiên cứu, nhưng có đường đến từ các tầng thấp.

Ảnh nội thất cho thấy những tuyến đi với bề mặt kim loại hoặc bê tông, cạnh dốc và ánh sáng tập trung ở đầu hành lang. Một số bức vách có lỗ tròn hoặc lớp hoàn thiện khác với mặt sàn. Các khoảng chuyển tiếp không có cùng kích thước với những tầng nghiên cứu mở ở trên. Tại nơi dẫn đến sân và cửa, ánh sáng phía ngoài tạo một vùng sáng rõ; sâu hơn trong công trình, tường, trần và lối đi nằm trong những sắc độ xám khác nhau.

Khoang làm việc mở với bê tông và mặt kính.Ảnh: Hisao Suzuki

Tầng mở và những phòng dài

Các tầng làm việc có mặt bằng rộng, kết cấu và đường kỹ thuật được bố trí để giữ khả năng thay đổi cách sử dụng. Trên bản vẽ, những khoang mở nằm cạnh phòng dài, các phòng hội thảo và lõi phục vụ. Những dải kính đưa ánh sáng từ mặt ngoài vào, còn vách bê tông xác lập một số cạnh bên trong. Trong ảnh hoàn thiện, nhiều phòng chưa có đồ đạc, nên có thể thấy trọn chiều dài sàn và trần.

Các phòng dài có sàn gỗ hoặc mặt hoàn thiện khác với những khoang rộng cạnh bên. Một số phòng có trần và vách đục lỗ, khung kính cao ở đầu cùng đường ánh sáng chạy bên cạnh lớp ngoài. Trong các khoang mở, mặt dưới sàn bê tông và những tuyến kỹ thuật vẫn hiện rõ. Các phòng không tạo thành một dãy có diện tích bằng nhau: chiều rộng, chiều dài và vị trí tiếp xúc mặt đứng thay đổi theo công năng được ghi trên mặt bằng.

Phòng dài có sàn gỗ cạnh lớp mặt đứng.Ảnh: Hisao Suzuki

Mặt đứng gồm những đĩa kính

Hệ mặt đứng có một lớp ngoài gồm khoảng 17.000 đĩa kính tròn được làm mờ bề mặt. Những đĩa được đặt trên các khung thép và lặp lại thành hàng, đứng trước mặt kính của phòng. Từ bên trong, mỗi đĩa tạo một vùng sáng riêng trên nền khung; từ ngoài, chúng hợp thành một trường liên tục. Khoảng giữa lớp đĩa và mặt kính bên trong có thể nhìn thấy rõ ở các góc chụp xiên.

Hồ sơ thiết kế mô tả hệ điều chỉnh nắng tự động và khả năng thay thế các bộ phận khi công nghệ thay đổi. Một phần mặt phía bắc được dự kiến phục vụ nghiên cứu năng lượng mặt trời. Những dự kiến này thuộc chương trình phát triển của hệ vỏ; ảnh hoàn thiện ghi lại các đĩa kính và khung lắp đặt, không chứng minh một mức sản xuất điện cụ thể. Đường biên của từng tầng được nhận biết qua sàn và các thanh ngang nằm sau trường đĩa ở mặt ngoài.

Khung và đĩa kính nhìn từ phòng phía trong.Ảnh: Hisao Suzuki

Cầu thang và chiều sâu sau mặt dựng

Cầu thang cùng các tuyến đứng được đặt trong những dải có bề mặt thép và bê tông. Ở một ảnh nhìn dọc, bậc chạy lên giữa tường đặc và các thanh đứng cao; ánh sáng lọt xuống từ phần trên. Ở những vị trí khác, đường đi chạy ngay cạnh mặt kính, cho thấy khoảng cách đến lớp đĩa ngoài. Các hành lang này có chiều dài và điều kiện sáng khác với sảnh tầng thấp.

Những góc nội thất hướng về mặt đứng cho thấy các khung đứng, giằng thép và đĩa kính chồng lên nhau. Phòng nằm sau một mặt kính riêng, nên đường giới hạn sử dụng không trùng với mép lớp che ngoài cùng. Trên cao, có những khoảng sân và phần mái tiếp xúc trực tiếp ngoài trời. Hệ lối đi nối các tầng nghiên cứu với phòng hội thảo, phần triển lãm và sân, trong khi lõi kỹ thuật giữ một số vị trí cố định trên suốt chiều cao nhà.

Chiều sâu giữa kính phòng và lớp che phía ngoài.Ảnh: Hisao Suzuki

Các đơn vị thực hiện và hồ sơ hoàn thành

Nhóm Sean Godsell Architects gồm Sean Godsell và Hayley Franklin; Peddle Thorp Architects tham gia với Chris Godsell, James Hampton và Raf Nespola. Felicetti phụ trách kết cấu và hạ tầng, Aecom thực hiện các hệ thống kỹ thuật. Permasteelisa đảm nhiệm phần mặt dựng, Aurecon quản lý dự án. Các hồ sơ giải thưởng năm 2013 ghi công trình với đầy đủ hai đơn vị kiến trúc và mốc hoàn thành 2012.

Tòa nhà nhận Huy chương Kiến trúc Victoria và Giải William Wardell năm 2013, cùng Giải Kiến trúc Công cộng cấp quốc gia trong năm đó. Ảnh hoàn thiện ghi lại khối cao từ giao lộ, sân phía tây và nhiều phòng chưa có đồ đạc. Từ phố, lớp đĩa kính che phần lớn nội thất. Ở gần, các lớp khung, kính và sàn xuất hiện qua nhau, cùng những vùng làm việc và đường đi có kích thước khác nhau sau mặt dựng.

Đọc thêm +