Thiết kế trước khi London được chọn đăng cai
London Aquatics Centre được nghiên cứu từ năm 2004, trước khi London được chọn tổ chức Olympic 2012. Theo Zaha Hadid Foundation, công trình được phát triển, xây dựng rồi điều chỉnh qua giai đoạn 2005–2011/2014. Mốc 2011 gắn với việc hoàn thành phục vụ chuẩn bị Thế vận hội; năm 2014 là lúc cơ sở mở lại sau chuyển đổi. Đây là hai trạng thái được dự kiến từ thiết kế, với quy mô khán giả và hình ảnh ngoài nhà khác nhau.
Công trình nằm tại Stratford, phía đông London, trong khu Queen Elizabeth Olympic Park. Nhà được thiết kế bởi Zaha Hadid và Patrik Schumacher, với Jim Heverin là giám đốc dự án. Foundation lưu một mô hình trình bày in ba chiều năm 2009, thể hiện hình thức sau khi tháo các cánh khán đài tạm. Tài liệu ấy ghi việc sử dụng công cụ số trong quá trình phát triển các bề mặt cong, đồng thời cho thấy trạng thái sử dụng lâu dài đã được nghiên cứu trước khi diễn ra Olympic.
Ba bể và nền nhà nối với cây cầu
Các bể được đặt theo một trục vuông góc với Stratford City Bridge. Bể tập nằm dưới phần quảng trường tiếp cận, còn bể thi đấu và bể nhảy cầu nằm trong không gian lớn có mái. Phần nền nhà được kéo vào hệ cầu và cảnh quan, chứa các chức năng phục vụ trước khi hạ về phía kênh. Nhờ vậy, công trình có nhiều cao độ tiếp cận và không chỉ hiện ra như một gian nhà thi đấu đặt trên một mặt sân phẳng.
Thuyết minh của văn phòng liên hệ đường mái với hình học của nước chuyển động. Mái uốn lên và hạ xuống theo các vùng bể, đồng thời vươn ra che phần cửa và sân. Trong giai đoạn Olympic, các khán đài tạm nằm dọc hai bên; sau đó chúng được tháo và thay bằng kính, để lại khoảng 2.500 chỗ ngồi thường xuyên. Hệ đỡ mái tại ba vị trí tạo khoảng rộng phía dưới, giữ các hướng nhìn từ khán đài tới mặt bể không bị một rừng cột chia cắt.
Mái thép và quá trình thi công
Balfour Beatty, nhà thầu xây dựng, ghi mái là một cấu trúc thép lớn với lớp bao nhôm, dài khoảng 160 mét. Bề rộng thay đổi theo từng vị trí, nên hình ảnh tổng thể không có một mặt cắt ngang lặp đều từ đầu tới cuối. Khối mái được đỡ tại ba vùng, trong khi phần nhà và bể bên dưới liên quan tới hệ móng riêng. Công việc thi công vì vậy gồm cả kết cấu vượt nhịp lớn ở trên và những phần bê tông cần độ chính xác cao quanh nước.
Nhà thầu cũng ghi việc đưa một phần lớn vật liệu tới công trường bằng đường sắt hoặc đường thủy, sử dụng vật liệu tái chế và điều phối các cấu kiện phục vụ thời gian Thế vận hội. Những số liệu môi trường do đơn vị thi công công bố thuộc hồ sơ thực hiện dự án, khác với hình ảnh ý tưởng về sóng nước. Sau sự kiện, một số bộ phận tạm có thể được sử dụng ở nơi khác, trong khi mái và phần nhà chính tiếp tục ở lại công viên.
Bê tông ở bể và các bục nhảy
The Concrete Centre ghi bê tông được sử dụng cho móng, bể, phần thân nhà và các bục nhảy cầu. Bê tông tự lèn được chọn cho nhiều cấu kiện phía trên, trong đó có các bục nhảy, để đáp ứng hình dạng và yêu cầu bề mặt. Các bục vươn theo những hướng cong và có cao độ khác nhau, nhưng vẫn là thiết bị thi đấu với vị trí sử dụng xác định. Chúng hiện ra như những cấu kiện riêng trên nền nước và lớp ghế phía sau.
Các bể có nhiệm vụ khác nhau: bể thi đấu dài 50 mét, bể nhảy cầu dài 25 mét, còn một bể tập 50 mét nằm dưới vùng tiếp cận. Phần nền móng phải xử lý những đường hầm hạ tầng có sẵn trong khu đất, nên công việc không chỉ diễn ra ở kết cấu mái dễ nhìn thấy. Hồ sơ vật liệu ghi việc thay một phần xi măng bằng các thành phần bổ sung và sử dụng cốt liệu thứ cấp, bên cạnh những yêu cầu về độ bền và bảo trì của công trình bể bơi.
Trần gỗ và không gian sau khi tháo khán đài tạm
Züblin Timber tham gia tính toán, lập kế hoạch, sản xuất và lắp dựng các phần gỗ. Đơn vị mô tả lớp trần dưới mái được tạo bằng hàng chục nghìn thanh, chạy liên tục qua các vùng cong. Trong ảnh, những đường gỗ kéo theo bề mặt, xuất hiện khác với phần vách kính chia ô bên rìa. Ở ngoài cửa, cùng lớp trần ấy tiếp tục dưới mái đua, để vùng trong nhà và phần che trước lối vào có một bề mặt phía trên liên hệ nhau.
Bộ ảnh Legacy Mode của Hufton + Crow ghi trạng thái sau khi tháo hai cánh khán đài tạm. Các vách kính nghiêng đưa ánh sáng vào hai bên bể, còn lớp trần hạ xuống ở giữa rồi mở cao hơn về hai đầu. Các ô thiết bị tròn nằm trên bề mặt mái, trong khi những dải ghế chạy theo chiều dài phòng. Ảnh nhìn vào bể nhảy cầu cho thấy các bục bê tông, mặt nước và phần mái cùng nằm trong một khoảng lớn, với độ cao thay đổi rõ giữa các vị trí.
Mở lại năm 2014 và các hoạt động tiếp nối
Olympic Studies Centre ghi cơ sở mở lại ngày 1 tháng 3 năm 2014 sau khi được chuyển đổi về quy mô thường xuyên. Những hoạt động sau Olympic gồm học bơi, tập luyện, nhảy cầu và các chương trình cho công chúng, bên cạnh thi đấu. Các bộ phận điều chỉnh độ sâu và phân chia mặt bể cho phép nhiều dạng sử dụng. Năm 2016 nhà đón giải vô địch bơi lội châu Âu; năm 2019 là giải vô địch bơi người khuyết tật thế giới.
Các mốc sử dụng cho thấy việc chuyển từ địa điểm phục vụ một sự kiện sang cơ sở công cộng diễn ra qua một giai đoạn thi công riêng. Công trình năm 2012 có những khán đài lớn ở hai bên; hình ảnh thường thấy trong các bộ ảnh sau đó là hình thức nhỏ gọn hơn, có kính dưới mái. Bởi vậy, ảnh Legacy Mode không đại diện cho toàn bộ trạng thái trong Thế vận hội. Nó ghi một bước cụ thể trong lịch sử nhà, khi các bể, mái và những phần phục vụ chính được giữ lại cho hoạt động dài hạn.


