Một lần mở rộng trong lịch sử bảo tàng

Anchorage Museum mở cửa năm 1968 và đã trải qua nhiều lần bổ sung trước dự án của David Chipperfield Architects. Những phần xây dựng vào thập niên 1970 và 1980 tạo thành một tổ hợp bảo tàng trong trung tâm thành phố. Năm 2003, văn phòng Chipperfield thắng cuộc thi quốc tế cho giai đoạn mở rộng tiếp theo. Phần công trình mới mở cửa năm 2009, với Kumin Associates là văn phòng kiến trúc địa phương và Alcan General phụ trách thi công.

Dự án đặt các không gian mới dọc mặt phía tây của công trình hiện hữu, đồng thời thay đổi hướng tiếp cận chính. Một mặt đứng mới mở về trung tâm Anchorage, phía trước là khoảng đất dành cho công chúng. Bảo tàng cũ tiếp tục nằm phía sau và được nối với phần thêm mới tại các tầng thấp. Các phòng trưng bày, không gian giáo dục, nghiên cứu và dịch vụ khách tham quan được phân bố trong cả hai phần công trình.

Phần mở rộng nhìn từ xa, với đường phố và dãy núi phía sau.Ảnh: Christian Richters

Năm khối dài với cao độ khác nhau

Phần mở rộng gồm năm khối dạng thanh có chiều dài và chiều cao khác nhau. Chúng đặt song song theo cùng một hướng, nhưng các đầu khối không dừng trên một đường thẳng. Ở mặt trước, những đoạn thấp và cao lùi vào hoặc vươn ra tạo một mặt đứng có nhiều lớp. Ở hai đầu, các khối để lại những chỗ lõm và những mặt bên ngắn nhìn về đường phố.

Công trình có bốn tầng nhưng diện tích không bằng nhau ở mọi cao độ. Phần sàn phía dưới trải rộng hơn; lên cao, các khối thu hẹp dần. Mặt cắt cho thấy khối cao nhất nằm gần phần nối với bảo tàng cũ, còn các khối hướng ra quảng trường thấp hơn. Phòng trưng bày Chugach ở tầng trên cùng nằm trong một dải dài và hẹp. Hệ bậc cao độ của mái tiếp tục xuống những không gian lớn hơn ở dưới, nơi đặt lối vào và các phòng phục vụ khách.

Các dải kính đứng trên những khối có cao độ khác nhau.Ảnh: Christian Richters

Khoảng công cộng và lối vào mới

Phía trước mặt đứng kính có một khoảng công cộng với đường đi, bãi cỏ và cây. Các cụm cây bạch dương nằm trong thiết kế cảnh quan của Charles Anderson Landscape Architects và Earthscape. Khoảng đất này nằm giữa bảo tàng và những đường phố ở trung tâm Anchorage. Các lối đi nối vỉa hè với cửa vào; từ phía đường, có thể nhìn qua những thân cây tới các dải kính của công trình mới.

Trên mặt bằng tầng trệt, lối vào chính dẫn vào một sảnh rộng nằm ngang giữa các chức năng phục vụ khách. Một phía là trung tâm tư liệu, phía còn lại có cửa hàng và nhà hàng. Cầu thang chính đặt sâu hơn, gần đường nối sang phần bảo tàng hiện hữu. Các phòng vệ sinh, thang máy và khu phục vụ nằm cạnh hệ giao thông. Những không gian này có cửa kính nhìn ra quảng trường, khác với một số phòng trưng bày nằm sâu hơn trong tổ hợp.

Một đầu công trình nhìn từ đường phố bên cạnh.Ảnh: Christian Richters

Các tuyến nối với bảo tàng cũ

Hai tầng thấp của phần mới liên hệ với các tầng tương ứng của công trình hiện hữu. Mặt bằng cho thấy những đoạn hành lang ở hai phía nối vào hệ phòng quanh atrium cũ, tức khoảng thông tầng ở giữa bảo tàng. Những đường nối này tạo nhiều cách đi giữa hai phần. Tại tầng trệt, các phòng trưng bày, khu giáo dục và hội trường của tổ hợp nằm phía sau vùng đón tiếp mới.

Cầu thang chính chiếm một khoảng thông tầng cao, với các đợt thang và chiếu nghỉ xếp nối lên những tầng trưng bày. Các bề mặt gỗ ốp theo chiều đứng bao quanh khoảng thang, trong khi mặt dưới của các đợt thang có màu sẫm. Ánh sáng đi vào từ phía trên và từ các ô kính cạnh không gian này. Trên mặt cắt dọc, các chiếu nghỉ nối trực tiếp vào sàn phòng, còn những lõi thang riêng nằm ở đầu các dải công trình.

Cầu thang chính nằm giữa những bề mặt gỗ cao trong nội thất.Ảnh: Christian Richters

Phòng trưng bày và trung tâm nghiên cứu

Tầng ngay trên tầng trệt có không gian của Smithsonian Arctic Studies Center. Trong mặt bằng, các tủ trưng bày được bố trí thành một dãy trong phòng dài, cạnh những vùng đi lại và các phòng phụ trợ. Tầng phía trên dành cho triển lãm tạm thời. Phòng Chugach ở cao độ cao nhất tiếp tục theo dạng thanh của khối nhà, với cầu thang và những bộ phận phục vụ ở hai đầu.

Các phòng trưng bày và nghiên cứu của Smithsonian Arctic Studies Center được khai trương năm 2010. Theo bảo tàng, chương trình đưa hơn 600 hiện vật di sản của các cộng đồng bản địa Alaska về khu vực xuất xứ thông qua việc cho mượn dài hạn từ Smithsonian. Bên cạnh phòng trưng bày là nơi làm việc và gặp gỡ của các bậc cao niên, nghệ sĩ, nhà giáo dục và nhà nghiên cứu. Phần giới thiệu hiện vật kết hợp văn bản, hình ảnh và lời kể của những người am hiểu văn hóa bản địa.

Phòng trưng bày với tường sáng, cột bê tông và trần kim loại sẫm.Ảnh: Christian Richters

Kính có các dải phản chiếu

Mặt ngoài sử dụng kính với những dải phản chiếu theo chiều đứng. Các dải này xuất hiện trên nhiều khối và nhiều tầng, trong khi những đường nối ngang chia bề mặt theo cao độ công trình. Nhìn từ ngoài, kính phản chiếu bầu trời, núi và những tòa nhà lân cận. Ở những đoạn có thể nhìn xuyên, các cột, trần và hoạt động bên trong hiện sau lớp mặt đứng. Ảnh ban đêm cho thấy ánh sáng nội thất đi qua các vùng kính này.

Đơn vị triển khai mặt dựng Architectural Wall Systems mô tả các tấm kính hộp dài khoảng 6,4 mét, với các vạch phản chiếu nằm ở mặt trong của lớp kính ngoài. Cùng một lớp vạch có vẻ sáng bạc từ bên ngoài nhưng xám mờ khi nhìn từ trong. Hệ mặt dựng còn có bộ phận sưởi đặt giữa lớp kính ngoài và lớp kính phía phòng nhằm kiểm soát ngưng tụ. Đây là mô tả cấu tạo của đơn vị thực hiện, không phải số liệu đo hiệu quả vận hành.

Khu trưng bày có mặt kính cao chạy dọc một phía.Ảnh: Christian Richters

Bê tông, gỗ và màu trong các phòng

Kết cấu bê tông được để lộ trong nội thất. Các vách xây giữa cột chia không gian thành những phòng trưng bày khác nhau. Những cột và mảng kết cấu có màu xám đứng cạnh tường trưng bày sáng hơn; một số phòng có cửa kính cao ở phía ngoài. Sàn có bề mặt liên tục, trong khi trần chia thành các dải kim loại song song. Các thiết bị chiếu sáng và kỹ thuật được đưa vào hệ trần này.

Màu và vật liệu thay đổi tại từng không gian công cộng. Khoảng cầu thang có các mặt gỗ cao; quán cà phê có những mảng màu đỏ cùng bàn ghế đặt gần kính. Phòng trưng bày sử dụng tường sáng, nền xám và các mảng trần sẫm. Theo nhóm thiết kế, việc lựa chọn vật liệu khác nhau được dùng để phân biệt sảnh vào, atrium, quán cà phê và các phòng triển lãm. Phần sàn hoàn thiện bằng vật liệu gốc xi măng được mài, giữ một mặt nền liên tục giữa các bộ phận nội thất.

Bàn ghế trong khu cà phê cạnh mặt kính, với các mảng màu đỏ.Ảnh: Christian Richters

Các phần phục vụ và nhóm triển khai

Các đầu khối dịch vị trí tạo những khoảng lõm ở phía bắc và phía nam. Những khoảng này được dùng để đặt các bộ phận phục vụ, trong đó có khu nhận hàng. Bản vẽ tầng trệt phân biệt vùng công chúng ở phía mặt đứng mới với các phòng phục vụ nằm gần chỗ nối công trình cũ. Thang máy, thang bộ và các phòng kỹ thuật được đưa vào những lõi nằm dọc các dải nhà.

Mattias Kunz là kiến trúc sư dự án của David Chipperfield Architects. Các đơn vị kết cấu gồm BBFM Engineers và Magnusson Klemencic Associates; George Sexton Associates tham gia chiếu sáng, còn Ralph Appelbaum Associates phụ trách một phần thiết kế trưng bày. Phần mở rộng năm 2009 được nối vào bảo tàng đang có, với các phòng mới và lối vào mới ở phía tây. Bảo tàng tiếp tục có một giai đoạn bổ sung khác vào năm 2017, do nhóm thiết kế địa phương khác thực hiện.

Đọc thêm +