Từ Devon đến trường kiến trúc ở London
David Alan Chipperfield sinh tại London năm 1953 và lớn lên trên một trang trại ở Devon. Trong hồi tưởng đăng trên Domus, ông nhắc đến những năm học nội trú tại Wellington School ở Somerset, nơi một giáo viên khuyến khích ông vẽ và dành thời gian trong phòng mỹ thuật. Những trải nghiệm nông thôn gắn với nhà kho, vật liệu và các công việc thường ngày xuất hiện nhiều lần trong cách ông kể về tuổi thơ. Con đường đến kiến trúc hình thành qua việc học mỹ thuật, trước khi ông chuyển đến London. [1][5]
Bài viết của Deyan Sudjic trong bản tin Architectural Association năm 2009 ghi nhận Chipperfield bắt đầu học tại Kingston Polytechnic năm 1971, rồi chuyển sang AA sau hai năm. Ông nhận bằng AA năm 1980. Bối cảnh trường khi ấy gồm nhiều hướng tiếp cận khác nhau, từ Leon Krier, Peter Cook đến Rem Koolhaas; Su Rogers là một trong các giảng viên của ông. Sau giai đoạn học tập, Chipperfield làm tại các văn phòng Douglas Stephen, Richard Rogers và Norman Foster trước khi thành lập David Chipperfield Architects ở London năm 1985. [3][2]
Cửa hàng đầu tiên và thời kỳ làm việc ở Nhật
Cửa hàng Issey Miyake trên Sloane Street được thiết kế và hoàn thành năm 1985, có diện tích khoảng 70 mét vuông. Nó thay thế một cửa hàng cũ của cùng nhà thiết kế. Nhóm sử dụng đá Portland, slate, gỗ và marble, tổ chức lại không gian từ tính chất vật liệu. Hồ sơ dự án ghi tên Ken Armstrong, David Gomersall và Sally Greaves-Lord trong nhóm cùng Chipperfield. Công trình nội thất nhỏ này nằm ở điểm bắt đầu của văn phòng, trước những bảo tàng và tổ hợp công cộng có quy mô lớn hơn. [4]
Quan hệ với Miyake đưa Chipperfield đến Nhật Bản làm thêm các cửa hàng. Đầu thập niên 1990, ba nhiệm vụ lớn hơn là Toyota Auto Kyoto, Gotoh Museum ở Chiba và trụ sở Matsumoto tại Okayama mở rộng phạm vi công việc của ông. Trong phỏng vấn Domus năm 2019, ông mô tả khoảng năm, sáu năm này như một giai đoạn học tập tiếp theo và nhắc tới tình bạn với Tadao Ando. Các cuộc thi tại Italy sau đó tạo thêm cơ hội, gồm San Michele ở Venice, MUDEC tại Milan, tòa án Salerno và bảo tàng ở Verona. [5]
Henley và bước chuyển đến Berlin
River & Rowing Museum tại Henley-on-Thames bắt đầu năm 1989 và hoàn thành xây dựng năm 1997 theo hồ sơ văn phòng. Các khối dài song song với mái dốc và vách gỗ sồi liên hệ với nhà thuyền bên sông cùng nhà kho nông nghiệp Oxfordshire. Công trình được nâng trên cột bê tông vì bãi đất cạnh sông Thames có thể ngập. Không gian công cộng nằm dưới các phòng trưng bày phía trên. Nội dung bảo tàng bao gồm lịch sử môn chèo thuyền, dòng sông và thị trấn, đưa văn phòng từ thiết kế nội thất sang một thiết chế văn hóa độc lập. [6]
Tại Berlin, cuộc thi đầu tiên cho Neues Museum diễn ra năm 1993 nhưng chưa dẫn đến kết quả được thực hiện. Sau vòng tuyển chọn thứ hai năm 1997, David Chipperfield Architects nhận nhiệm vụ phục hồi tòa nhà với kiến trúc sư bảo tồn Julian Harrap. Những phương án ban đầu từng xem bảo tàng như cửa vào chung của Museum Island. Do lưu lượng lớn có thể ảnh hưởng các phòng lịch sử, việc tổ chức lối vào được xem xét lại trong quy hoạch tổng thể được phê duyệt năm 1999. Công trình mở cửa trở lại năm 2009. [7]
Bảo tồn và các bảo tàng mới trong thập niên 2000
Neues Museum đặt nhóm trước một công trình thế kỷ XIX còn nhiều dấu tích bom đạn và thời gian bỏ hoang. Quá trình phục hồi giữ lại những phần tồn tại, sửa chữa từng điều kiện cụ thể và bổ sung các khoảng mất để nối lại chuỗi phòng. Cầu thang chính được tái lập bằng các cấu kiện bê tông đúc sẵn màu sáng, trong sảnh còn bề mặt gạch cũ. Theo hồ sơ văn phòng, dự án cũng làm thay đổi cách nhóm làm việc với di sản, yêu cầu của công chúng và những bên cùng quyết định số phận công trình. [8]
Museum of Modern Literature tại Marbach hình thành từ cuộc thi năm 2001–2002, thi công từ năm 2003 và hoàn thành năm 2006. Dự án do văn phòng Berlin thực hiện, với Alexander Schwarz được ghi nhận phụ trách thiết kế cùng các đối tác David Chipperfield và Harald Müller. Các phòng trưng bày bản thảo nằm trong sườn dốc, bên dưới pavilion có hàng cột. Tuyến vào chuyển dần từ ánh sáng ngoài trời sang ánh sáng nhân tạo phù hợp với hiện vật dễ tổn hại. Công trình nhận RIBA Stirling Prize năm 2007, một năm sau khi hoàn thành. [9][10]
Các văn phòng và quy mô cộng tác
Sau London, mạng lưới mở rộng đến Berlin năm 1998, Shanghai năm 2005, Milan năm 2006 và Santiago de Compostela năm 2022. Hồ sơ hiện hành mô tả năm văn phòng là những đơn vị độc lập, cùng chia sẻ định hướng kiến trúc nhưng gắn với địa bàn hoạt động. David Chipperfield Design và Fundación RIA bổ sung hai phạm vi khác: thiết kế đồ vật và nghiên cứu lãnh thổ. Cấu trúc này phát triển qua nhiều giai đoạn, bên cạnh các nhóm được tổ chức riêng cho từng công trình và các đối tác triển khai tại địa phương. [1][16]
Amorepacific tại Seoul cho thấy một quy mô công việc khác với các bảo tàng đầu tiên. Cuộc thi diễn ra năm 2010, công trường bắt đầu năm 2014 và trụ sở hoàn thành năm 2017. Christoph Felger được ghi nhận là người phụ trách thiết kế; HAEAHN Architecture tham gia triển khai phần vỏ và kết cấu công trình tại Hàn Quốc. Khối nhà tổ chức quanh sân giữa, có những khoảng mở lớn nối sân với cảnh quan thành phố. Bảo tàng, hội trường, thư viện, nhà hàng và dịch vụ chăm sóc trẻ được đặt cùng các không gian làm việc. [14]
Giảng dạy, triển lãm và công trình tại Anh
Chipperfield giảng dạy tại Học viện Mỹ thuật Stuttgart từ năm 1995 đến 2001 và giữ vị trí giáo sư thỉnh giảng Norman R. Foster ở Yale năm 2011. Năm 2009, Design Museum tại London giới thiệu Form Matters, một triển lãm nhìn lại hoạt động của ông qua các dự án như Henley, Marbach và Neues Museum. Hồ sơ AA ghi nhận buổi tham quan riêng của hội viên trường ngày 26 tháng 10, có phần giới thiệu của Chipperfield. Triển lãm tiếp tục đến tháng 1 năm 2010, vào thời điểm nhiều công trình lớn ở Anh còn đang triển khai. [1][3]
The Hepworth Wakefield mở cửa tháng 5 năm 2011 trên bờ sông Calder. Bảo tàng mang tên Barbara Hepworth, nhà điêu khắc sinh trưởng ở thành phố, với không gian giới thiệu tác phẩm và quá trình làm việc của bà. Nhóm thiết kế tổ chức các phòng lấy sáng từ mái và những cửa sổ lớn nhìn ra sông cùng các mốc đô thị. Mặt ngoài bằng bê tông pha màu được đổ tại chỗ. Hồ sơ công trình ghi Wakefield Council là chủ đầu tư, Ramboll phụ trách kỹ thuật và cầu, còn Gross Max thiết kế cảnh quan. [11][12]
Common Ground và các nhiệm vụ phục hồi tiếp theo
Năm 2012, Chipperfield làm giám đốc Biennale Kiến trúc Venice lần thứ 13. Chủ đề Common Ground đặt sự chia sẻ ý tưởng và các quan hệ nghề nghiệp vào trung tâm triển lãm. Chương trình gồm 69 dự án với 119 người tham gia, từ kiến trúc sư đến nghệ sĩ, nhiếp ảnh gia và nhà nghiên cứu. Trong cuộc phỏng vấn năm 2017 với Luke Slattery, ông tiếp tục nói về việc duy trì không khí xưởng thiết kế trong một tổ chức phải đáp ứng yêu cầu thương mại. Ông mô tả đây là một cân bằng mà văn phòng liên tục tìm kiếm. [13][15]
Neue Nationalgalerie, công trình của Ludwig Mies van der Rohe hoàn thành năm 1968, là một nhiệm vụ bảo tồn khác ở Berlin. Văn phòng Chipperfield được giao việc năm 2012; bảo tàng đóng cửa trong đợt cải tạo kéo dài từ năm 2015 đến 2021. Công việc gồm hệ thống kỹ thuật, an toàn cháy, vỏ bao che, sửa bê tông, điều kiện bảo quản nghệ thuật và các tiện ích cho khách. Các quyết định được phối hợp với cơ quan bảo tồn Berlin để giữ diện mạo cùng tối đa vật liệu cũ. Bảo tàng đón công chúng trở lại ngày 22 tháng 8 năm 2021. [17]
Fundación RIA: từ nghiên cứu vùng đến một địa chỉ công cộng
Fundación RIA được giới thiệu công khai ngày 14 tháng 7 năm 2017, sau giai đoạn nghiên cứu bắt đầu từ năm trước. Các nghiên cứu thử nghiệm ban đầu tập trung vào năm địa điểm quanh Ría de Arousa, xem xét công nghiệp, cảnh quan tự nhiên, tái thiết đô thị và hạ tầng. Quỹ được tổ chức như một đơn vị độc lập, phi lợi nhuận, hợp tác với cộng đồng, chính quyền, trường đại học và giới sản xuất. Lĩnh vực hoạt động bao gồm quản lý đất, quy hoạch lãnh thổ và các quy trình chuẩn bị dự án kiến trúc. [18][19]
Trong cuộc trao đổi với nghệ sĩ Álvaro Negro đăng năm 2025, Chipperfield liên hệ công việc của quỹ với đời sống gia đình nhiều năm ở Galicia và hoạt động thường ngày của cư dân. Ông kể về việc tham gia cả chương trình sử dụng, thay vì chỉ tạo ra phần vỏ kiến trúc. Casa RIA mở cửa tại Santiago de Compostela ngày 1 tháng 7 năm 2024 trong một cơ sở điều dưỡng cũ được cải tạo. Nơi này kết hợp văn phòng, triển lãm, chỗ ở phục vụ nghiên cứu và quán ăn A Cantina, đồng thời là địa chỉ làm việc của văn phòng Santiago. [20][21]
Pritzker, bộ sách bốn thập niên và các mốc 2025–2026
Chuỗi ghi nhận quốc tế gồm Royal Gold Medal của RIBA năm 2011, Praemium Imperiale năm 2013 và Pritzker năm 2023. Chipperfield cũng làm cố vấn kiến trúc trong chương trình Rolex Mentor and Protégé giai đoạn 2016–2017. Năm 2025, bộ chuyên khảo hai tập do Rik Nys biên tập được xuất bản, tổng cộng 664 trang, tập hợp tư liệu từ hơn 100 dự án qua bốn thập niên. Sách đưa công trình đã xây, phương án chưa thực hiện, thiết kế đồ vật và nghiên cứu vào cùng hồ sơ, với bài viết của Kenneth Frampton, Joseph Rykwert và Barry Bergdoll. [2][22]
Tháng 9 năm 2026, Faro Santander bổ sung một công trình chuyển đổi di sản thành không gian văn hóa trong danh mục văn phòng. Trụ sở lịch sử của Banco Santander trên Paseo de Pereda, được ngân hàng sử dụng từ năm 1923, được cải tạo để chứa bộ sưu tập nghệ thuật và tổ chức triển lãm, sự kiện. Lễ khánh thành diễn ra ngày 7 tháng 9; lịch mở cửa công chúng bắt đầu ngày 8 tháng 9. Dự án giữ vị trí của tòa nhà bên vịnh Santander đồng thời thay đổi hình thức tiếp cận từ một cơ sở ngân hàng sang địa điểm văn hóa. [23]
Các mốc thời gian
- 1971
Bắt đầu học tại Kingston Polytechnic. [3]
- 1980
Nhận bằng Architectural Association. [3]
- 1985
Thành lập văn phòng và hoàn thành cửa hàng Issey Miyake tại London. [2][4]
- 1989–1997
Thiết kế và xây dựng River & Rowing Museum. [6]
- 1997
Được chọn phục hồi Neues Museum cùng Julian Harrap. [7]
- 1998
Mở văn phòng Berlin. [1]
- 2005–2006
Mở các văn phòng Shanghai và Milan. [1]
- 2006–2007
Museum of Modern Literature hoàn thành, sau đó nhận Stirling Prize. [9][10]
- 2009
Neues Museum mở cửa trở lại. [7]
- 2011
The Hepworth Wakefield mở cửa; Chipperfield nhận Royal Gold Medal. [12][2]
- 2012
Giám tuyển Common Ground tại Venice. [13]
- 2013
Nhận Praemium Imperiale. [2]
- 2017
- 2021
Neue Nationalgalerie mở cửa trở lại sau cải tạo. [17]
- 2022–2023
- 2024
Casa RIA mở cửa ngày 1 tháng 7. [21]
- 2025
Xuất bản chuyên khảo hai tập về bốn thập niên công việc. [22]
- 2026
Faro Santander khánh thành tháng 9. [23]
Tài liệu tham khảo
- Sir David Alan Chipperfield CH ↗The Pritzker Architecture Prize
- David Chipperfield ↗David Chipperfield Architects
- David Chipperfield at the AA — AArchitecture 10, Autumn 2009 ↗Architectural Association
- Issey Miyake Sloane Street store ↗David Chipperfield Architects
- The places of David Chipperfield ↗Domus
- River & Rowing Museum ↗David Chipperfield Architects
- Neues Museum ↗Masterplan Museumsinsel / Stiftung Preußischer Kulturbesitz
- Neues Museum ↗David Chipperfield Architects
- Museum of Modern Literature ↗David Chipperfield Architects
- RIBA Stirling Prize — Past winners ↗RIBA
- Our architecture ↗The Hepworth Wakefield
- About us ↗The Hepworth Wakefield
- History of Biennale Architettura — Common Ground ↗La Biennale di Venezia
- Amorepacific headquarters ↗David Chipperfield Architects
- Straight Lines — Luke Slattery, 8 April 2017 ↗Wish Magazine / The Australian, archived by David Chipperfield Architects
- Practice ↗David Chipperfield Architects
- Refurbishment of Neue Nationalgalerie from 2015 to 2021 ↗Staatliche Museen zu Berlin
- Public presentation marks the launch of the Fundación RIA ↗David Chipperfield Architects
- Foundation ↗Fundación RIA
- Casa Ria: David Chipperfield — conversation with Álvaro Negro ↗Gagosian Quarterly
- Casa RIA opens in Santiago de Compostela ↗David Chipperfield Architects
- David Chipperfield Architects monograph ↗David Chipperfield Architects / Verlag der Buchhandlung Walther und Franz König
- Faro Santander public opening ↗David Chipperfield Architects
Cập nhật hồ sơ: 27.10.2026









