Một tòa căn hộ trong khu phố đông đúc

Apartment in Okachimachi được xây tại Tokyo trong giai đoạn 2012–2014, với chức năng căn hộ kết hợp cửa hàng. Chủ đầu tư đã sống lâu năm trong khu vực và muốn công trình tạo điều kiện ở có sự ngăn cách nhất định với tiếng ồn của phố. Yêu cầu này được ghi trong thuyết minh của nhóm thiết kế. Go Hasegawa và Shu Yamamoto không tổ chức tất cả căn hộ theo một mặt bằng lặp lại; thay vào đó, các phần ở có hình dạng và vị trí thay đổi từ tầng này sang tầng khác.

Khối nhà bằng bê tông đứng giữa những công trình có chiều cao khác nhau, tại nơi các tuyến đường gặp nhau. Trong ảnh nhìn từ phố, mặt ngoài có những ô cửa nhỏ và các khe mở, một số nằm gần góc nhà. Đường bao công trình tương đối thẳng, nhưng những khoảng hở bên trong làm cho các phần kín không ghép sát nhau thành một khối đặc hoàn toàn.

Khối nhà nhìn dọc một con phố trong khu Okachimachi.Ảnh: Hisao Suzuki

Mười cao độ trong hình bao công trình

Theo thuyết minh, nhóm thiết kế đưa mười tầng vào một thể tích thường chỉ bố trí khoảng tám tầng, bằng cách giảm chiều cao tầng xuống 2,6 mét. Con số này nói về khoảng cao độ của tầng, không đồng nghĩa với chiều cao thông thủy của mọi phòng. Các bản vẽ mặt cắt cho thấy sàn và các khoảng hở được đặt nối tiếp theo phương đứng. Trên mặt đứng, có thể nhận ra nhịp tầng qua những đường ngang của bê tông, nhưng cửa và các khe không phải lúc nào cũng nằm thẳng hàng.

Khi nhìn từ dưới phố lên, những phần tường và mép sàn có chỗ kéo qua một đoạn cửa, có chỗ dừng lại trước một khoảng rỗng. Cách bố trí tạo nên nhiều mối nối giữa phần ở của tầng này với khoảng hở ở tầng khác. Công trình vì thế có một trật tự cao độ rõ ràng, trong khi sự phân chia bên trong thay đổi theo từng lớp sàn.

Sảnh vào với tường bê tông cong và cửa kính.Ảnh: Hisao Suzuki

Hai phần ở và khe sân giữa chúng

Các tầng căn hộ được bố trí thành hai phần ở với những khoảng hở xen giữa. Những khe rộng khoảng 80 centimét thay thế cho một số ranh giới tường chung thông thường giữa hai căn. Vị trí và hình dáng của khe thay đổi theo cách sắp căn hộ ở mỗi tầng. Một số phần có thể sử dụng như sân nhỏ hoặc hiên; phần khác tiếp tục là khoảng không, nối với các lớp ở trên và dưới. Hasegawa mô tả các căn hộ như những phần tương đối độc lập nhưng vẫn nằm trong một cấu trúc ở chung.

Đây là ý định được nêu cùng cách đặt sân giữa các căn. Trên mặt bằng, có chỗ khoảng hở cong quanh một phần phòng; có chỗ nó tạo một đường chéo hoặc một cạnh thẳng. Các đường bao ấy không trùng nhau xuyên suốt chiều cao, nên khi xếp các tầng lại, xuất hiện một hệ khoảng trống có nhiều hướng nhìn hơn một giếng trời hình hộp thẳng đứng.

Khe hẹp giữa hai phần bê tông mở về phía trên.Ảnh: Hisao Suzuki

Cửa sổ hướng vào những khoảng hở

Không chỉ có cửa mở trực tiếp ra đường. Các cửa sổ và ô lấy sáng khác được đặt hướng vào khe sân bên trong, nơi ánh sáng có thể đi xuống giữa những khối căn hộ. Thuyết minh nêu hai trường hợp cụ thể: một căn ở tầng thấp vẫn nhìn lên được bầu trời qua khe, còn một căn ở mặt tây có đường nhìn qua công trình tới phía đông. Những trường hợp ấy gắn với vị trí cửa và sự lệch nhau của các mặt bằng.

Trong ảnh căn hộ, một cửa kính lớn nhìn sang khoảng sân nhỏ có bàn và ghế; ngoài nó là mặt tường bê tông của phần ở khác. Ở một góc khác, ánh sáng đi vào từ phía trên một vùng hẹp giữa tường và trần. Các khung cửa không đều nhau về kích thước hoặc cao độ. Có ô đứng gần sàn, có ô nằm trên cao. Mỗi cửa được đặt trong quan hệ với khoảng trống cụ thể ở ngoài nó.

Một căn hộ với sàn gỗ và cửa nhìn sang khoảng hở có bàn ghế.Ảnh: Shinkenchiku-sha

Mặt bằng thay đổi ở các tầng căn hộ

Bộ mặt bằng cho thấy nhiều dạng phòng trong cùng hình bao tòa nhà. Ở một tầng, phần sinh hoạt có đường biên cong, còn khu bếp và vệ sinh tập trung về phía lõi giao thông. Ở tầng khác, đường biên chuyển sang góc chéo, tạo một phòng dài với những đoạn tường không song song. Cầu thang và thang máy nằm trong phần giao thông chung, liên hệ tới các cửa vào căn hộ. Các khu tắm, vệ sinh, tủ và bếp được bố trí khác nhau tùy hình dạng căn.

Trên tầng cao có những vùng nhìn qua khe sân xuống các cao độ thấp hơn, còn hình mở của trần hoặc mái cũng đổi vị trí. Những thay đổi đó hiện trên cả mặt bằng và ảnh hoàn thiện: vách phòng có chỗ uốn cong, trần có đoạn giật, và ô cửa có vị trí riêng. Vì vậy, các căn không chỉ khác nhau ở hướng nhìn từ mặt ngoài mà còn ở cách không gian bên trong tiếp cận hệ sân hẹp.

Các mặt bê tông và ô sáng nằm ở những cao độ khác nhau trong khe sân.Ảnh: Hisao Suzuki

Sảnh vào và tuyến đi chung

Tại tầng tiếp đất, lối vào dẫn qua một sảnh có các mặt tường bê tông cong. Trong ảnh, một mặt cong phía trên chuyển hướng về cửa kính, còn nền sảnh được lát những viên nhỏ màu xám. Từ đây, các bộ phận giao thông đứng đưa người sử dụng lên các tầng căn hộ. Tòa nhà có cửa hàng trong chương trình sử dụng, được văn phòng ghi rõ cùng chức năng ở; phần tiếp giáp phố vì thế không chỉ phục vụ việc đi vào nhà.

Nhìn ở các góc ảnh ngoài đường, cửa, các phần lùi và cạnh tường xác định những vị trí tiếp cận ở chân công trình. Lối đi chung nằm trong cùng khối bê tông với các căn, nhưng những khoảng hở xuyên tầng không được sử dụng hoàn toàn như một hành lang đóng kín. Có phần là sân riêng của một căn, có phần chỉ tạo khoảng cách hoặc đường lấy sáng. Mặt bằng ghi rõ sự khác nhau giữa nơi đi lại, nơi ở và khoảng không.

Khoảng hở giữa các tầng với ánh sáng đi xuống mặt bê tông.Ảnh: Hisao Suzuki

Bề mặt bê tông, sàn gỗ và các ô mở

Trong các căn hộ, trần bê tông được để lộ, đi cùng những mảng tường sơn trắng và sàn gỗ. Những đường ván sàn chạy dưới các phần vách cong hoặc gãy góc, làm rõ sự thay đổi của đường bao phòng. Ảnh nội thất cho thấy đồ bếp và khu vệ sinh được đặt vào những đoạn có chiều sâu khác nhau; các cánh cửa phân chia những phần cần kín hơn. Ở các khe sân, bê tông tiếp tục hiện trên các mặt đứng và mặt dưới sàn.

Ánh sáng đi qua những mép hở tạo thành vùng sáng khác nhau trên bề mặt. Các vết ghép cốp pha và điểm liên kết vẫn nhìn thấy ở nhiều chỗ. Không có một lớp hoàn thiện sáng màu liên tục phủ hết mọi khoảng trống. Từ một căn nhìn ra, cửa kính đóng khung một phần của hệ bê tông ấy; từ một vị trí khác nhìn xuống, các mép tường và sàn ở nhiều tầng tạo thành những đường chồng nhau.

Nhìn qua cửa trên cao xuống một khoảng sân nhỏ giữa những khối tường.Ảnh: Shinkenchiku-sha

Hồ sơ thiết kế và các tư liệu của công trình

Văn phòng ghi tổng diện tích sàn là 701,80 mét vuông, kết cấu do Ohno Japan thực hiện và thi công bởi Misawa Homes West Kanto. Hồ sơ Shinkenchiku tháng 2 năm 2015 giới thiệu cách các căn có hình dáng khác nhau xếp thành mười lớp, với sân và hiên liên hệ qua khoảng thông tầng. Năm 2017, Canadian Centre for Architecture đặt Stefano Graziani chụp công trình cho triển lãm Besides, History. Bản ghi lưu trữ của CCA xác định rõ dự án ở Tokyo trong giai đoạn 2012–2014.

Các ảnh được đặt trong bài này là những góc chụp của Hisao Suzuki và Shinkenchiku-sha, có ghi credit riêng dưới từng ảnh. Chúng cho thấy công trình từ phố tới sảnh, từ căn hộ tới các khe sân. Ở những vị trí đó, điều kiện bao quanh thay đổi theo cao độ và theo hướng cửa, trong khi hình bao tòa nhà vẫn là một khối đứng nằm trong khu phố đông đúc.

Đọc thêm +