Một phòng trưng bày trong khu nhà ở
Art Shed là phần bổ sung cho một khu nhà ở có sẵn tại Beverly Hills, do Johnston Marklee thực hiện trong giai đoạn 2012–2016. Công trình dành cho bộ sưu tập nghệ thuật tư nhân, gồm tranh khổ lớn, tác phẩm sắp đặt, những tác phẩm nhỏ trên giấy và video. Các nhóm tác phẩm không cần cùng một loại phòng hay một mức chiếu sáng.
Khu đất có nhà chính xây năm 1932 do Paul Williams thiết kế, cùng các công trình phụ, vườn và sân. Phòng trưng bày mới không thay thế nhà chính. Nó chiếm vị trí một sân tennis không còn sử dụng, nằm trong hệ đường đi và địa hình của khu nhà. Chương trình nghệ thuật vì vậy được đặt vào một mặt bằng đã có lịch sử sử dụng riêng.
Sân tennis và chênh lệch nền
Nền sân tennis nằm thấp hơn sân tiếp cận khoảng 1,8 mét. Thiết kế tận dụng phần đất đã được san và các tường chắn có sẵn. Việc đặt nhà tại đây giảm nhu cầu mở một khu đất xây dựng mới giữa vườn, đồng thời giữ các cây và đường đi quan trọng của khuôn viên.
Chênh lệch cao độ trở thành điều kiện để tạo hai loại phòng trưng bày. Phòng gần lối vào ở cao độ trên có quy mô gần gũi hơn. Phòng lớn ở phía thấp có chiều cao tường lớn, phục vụ tranh và tác phẩm có kích thước khác. Từ ngoài, hai phần vẫn nằm trong một nhóm hình khối liên tục, dù sàn bên trong không cùng một mức.
Hai mái dốc kề nhau
Công trình gồm hai khối có hình dáng căn nhà với mái hai dốc. Hình học này liên hệ với những bộ phận cơ bản của nhà chính nhưng không lặp lại toàn bộ ngôn ngữ trang trí của công trình cũ. Các khối được ghép để chứa hai phòng trưng bày và những phần phục vụ ở cạnh.
Một số đoạn hình khối kéo dài thành mái che phía đông và khu vào nhà. Những phần này tiếp tục đường mái và đường tường, thay vì gắn thêm một mái hiên có hình thức riêng. Chúng tạo nơi đứng ngoài trời có che chắn trước khi vào phòng, đồng thời bao bọc các lối phục vụ. Hình dáng hai mái vì vậy còn tổ chức phần chuyển tiếp giữa vườn và không gian nghệ thuật.
Phòng nhỏ và phòng cao
Phòng phía tây dành cho những tác phẩm nhỏ hoặc nhạy với ánh sáng. Phòng phía đông có các bức tường cao khoảng sáu mét, thích hợp với tranh khổ lớn. Hai phòng đặt ra những khoảng cách quan sát và tỷ lệ không gian khác nhau. Chúng nằm cạnh nhau nhưng không được làm đồng nhất chỉ để giữ một mặt cắt chung.
Các không gian phụ gồm nơi lưu trữ, phòng kỹ thuật và phần phục vụ nhỏ. Chúng được bố trí trong quan hệ với hai phòng chính và các lối vào. Tổ chức này tách diện tích xem tác phẩm khỏi những hoạt động cần thiết để vận hành phòng trưng bày. Đường đi qua nhà có thể chuyển từ không gian thấp, kín đáo hơn sang phòng có chiều cao lớn ở nền sân cũ.
Ánh sáng giấu trong mái
Các ô lấy sáng được đặt lệch khỏi đỉnh mái và được che khỏi những góc nhìn thông thường từ bên trong cũng như từ các hiên. Ánh sáng đi qua cấu tạo mái trước khi tới phòng trưng bày. Hình dạng mái bên ngoài vì thế không hiện ra như một dãy cửa kính nổi trên nóc.
Ánh sáng được điều chỉnh theo yêu cầu của tác phẩm. Khoảng trong mái cũng tham gia vào việc phân phối không khí. Những thành phần kỹ thuật được ghép vào chiều sâu cấu tạo thay vì đặt toàn bộ lộ ra giữa phòng. Đối với các tác phẩm trên giấy và video, điều kiện trưng bày khác với phòng tranh lớn; tổ chức hai phòng cho phép duy trì sự khác biệt ấy.
Lớp kẽm và đường đi trong vườn
Tường và mái phủ những tấm kẽm rộng có mối nối đứng. Bề mặt tấm hơi phồng tạo độ chuyển nhẹ giữa các đường nối. Vật liệu đi qua cả mái lẫn tường, khiến hai khối có đường bao liên tục dù bên trong chứa những phòng có cao độ và yêu cầu riêng. Sàn gỗ Douglas fir tạo một lớp vật liệu khác tại nơi người xem đi lại.
Các đường đi sẵn có quanh công trình được điều chỉnh để phục vụ một khu vườn điêu khắc. Việc xem tác phẩm vì thế có thể diễn ra cả trong phòng và giữa cây cối ngoài trời. Nhà chính, phòng trưng bày và vườn vẫn là các phần phân biệt của khuôn viên; Art Shed thêm một nơi chuyên biệt cho nghệ thuật trên nền sân tennis cũ.


