Nhà kho cũ trong trung tâm Scharans

Atelier Bardill được xây tại trung tâm làng Scharans, trong vùng Domleschg của bang Graubünden. Trước đó, vị trí này có một nhà kho bằng gỗ. Nhà kho được tháo dỡ để xây xưởng làm việc cho Linard Bardill, nhạc sĩ, nhà văn và người kể chuyện. Bardill sống trong một ngôi nhà gần khu đất; công trình mới không được đặt ra như nơi ở chính của ông.

Khu trung tâm làng được bảo vệ. Cơ quan địa phương chỉ chấp thuận công trình thay thế nếu giữ đúng thể tích nhà kho cũ. Trên trang của mình, Bardill giải thích điều kiện này gắn với Hofstattrecht: hình bao cũ được xây dựng lại, đồng thời quan hệ khoảng cách với các thửa đất xung quanh được giải quyết theo hiện trạng đó. Thuyết minh của kiến trúc sư cũng xác nhận yêu cầu giữ thể tích là điều kiện cấp phép. Phần nhà mới đứng sát những nhà có mái dốc và đường làng hẹp.

Mặt đầu hồi bê tông đỏ nâu, phía trước có bồn nước bằng đá.Ảnh: Hisao Suzuki

Phòng làm việc, sân và tầng phụ trợ

Chương trình chính là một phòng làm việc. Theo thuyết minh của Olgiati, nhu cầu đó chiếm chưa đến một phần ba thể tích phải tái lập. Phần còn lại được tổ chức thành sân trong. Như vậy, hình bao công trình tiếp tục kích thước của nhà kho, nhưng bên trong được chia thành một phần kín và một phần ngoài trời.

Mặt bằng tầng chính cho thấy phòng làm việc nằm về một phía, cạnh sân lớn. Một cụm nhỏ ở vùng nối chứa khu vệ sinh và cầu thang xoắn đi xuống. Phía dưới phòng làm việc là tầng phụ trợ, gồm chỗ để xe, kho và khu kỹ thuật theo hồ sơ dự án. Tầng phụ trợ không trải thành một khối phòng sử dụng dưới toàn bộ sân. Lối đi ngoài, bậc vào và sân trong được bố trí theo các cao độ đất xung quanh; phần kín và phần hở cùng nằm trong đường bao bê tông của nhà.

Bàn và ghế gỗ trong phòng làm việc, cạnh vách kính mở về sân.Ảnh: Hisao Suzuki

Tường bao và hình dạng sân

Đường bao trên mặt bằng không hoàn toàn vuông góc. Các cạnh tiếp tục hình học của thể tích trước đây, tạo sân gần hình thang. Một tấm bê tông nằm ngang phủ quanh mép trên của sân, có lỗ mở lớn ở giữa. Bản vẽ thi công ghi rõ các trục của hình elip; thuyết minh ngắn của dự án thường gọi đây là lỗ mở tròn.

Phía trên tấm ngang, những đoạn tường đầu hồi còn vươn cao theo đường mái của hình bao cũ. Sân không có mái phủ kín. Ảnh hoàn thành cho thấy một mảng cỏ giữa sân, dải sàn cứng chạy sát tường và chỗ ngồi dưới phần được che. Núi, cây và mái nhà xung quanh nhìn thấy qua khoảng mở. Ở một mặt tường có ô lớn nối tầm nhìn từ đường vào sân; phần tường còn lại chủ yếu là bê tông đặc.

Sân cỏ, tường bê tông và mép lỗ mở phía trên sân.Ảnh: Hisao Suzuki
Sân cỏ dưới lỗ mở hình elip, bao quanh bởi tường bê tông đỏ nâu.Ảnh: Hisao Suzuki

Phòng làm việc hướng vào sân

Phòng làm việc tiếp xúc trực tiếp với sân qua một hệ cửa kính trượt lớn. Khi đóng, kính phân chia phần được sưởi với khoảng ngoài trời; khi mở, đường từ phòng ra sân không qua một hành lang khác. Sàn bê tông và tường đỏ nâu xuất hiện ở cả hai phía của kính. Trong các ảnh nội thất, bàn, ghế và đồ dùng làm việc nằm trong phần kín, còn sân cỏ ở ngay phía trước.

Mặt cắt của phòng không giống mặt cắt sân. Phòng có mái dốc kín, phía trên là hệ mái và các lớp kỹ thuật, trong khi sân mở lên trời. Một đầu phòng cao hơn đầu còn lại theo độ nghiêng của mái. Các mặt bê tông trong phòng vẫn có hoa văn và dấu ván khuôn. Hồ sơ mặt bằng còn chỉ vị trí các bộ phận âm học trong phần kín.

Phòng làm việc với lò sưởi, ghế và vách kính hướng ra sân.Ảnh: Hisao Suzuki

Bê tông đỏ nâu và hoa văn rosette

Bê tông của nhà được tạo màu đỏ nâu trong vật liệu, không chỉ bằng một lớp sơn phủ sau cùng. Cùng vật liệu này xuất hiện ở tường ngoài, tường sân và phần bên trong phòng làm việc. Màu trên ảnh thay đổi theo nắng và bóng che, nhưng không có những lớp ốp khác nhau dùng để phân chia các khu vực đó. Dấu ván khuôn chạy thành những dải đứng trên nhiều mặt tường.

Hoa văn dạng rosette, tức những hình hoa tròn có các cánh tỏa quanh tâm, được tạo từ khuôn gỗ chạm rồi đúc vào bê tông. Các hoa có nhiều kích cỡ, phân bố trên mặt đứng và bề mặt phía trong. Nét hoa không phải một lớp vật liệu gắn lên tường; đó là phần tạo hình ngay trên bề mặt bê tông. Các tường đầu hồi, mép sân và khuôn ô mở đều tiếp tục dùng vật liệu cùng màu.

Hoa văn rosette trên tường bê tông bên lối đi trong làng.Ảnh: Hisao Suzuki

Cấu tạo của phần phòng được sưởi

Phần phòng kín có cấu tạo bao che khác tường sân. Mặt cắt ghi tường phòng gồm bê tông lộ dày 20 cm phía trong, cách nhiệt 25 cm và bê tông lộ 20 cm phía ngoài. Các lớp được thể hiện riêng tại chân tường và chỗ gặp mái. Phần tường của sân chỉ làm ranh giới ngoài trời nên không lặp lại toàn bộ cấu tạo này.

Mái phía bắc của phòng có lớp đồng tấm, lớp chống thấm, ván gỗ, khoảng đệm và lớp cách nhiệt phía trên bản bê tông. Mái phía nam được ghi vị trí bộ thu năng lượng mặt trời. Ở mặt cắt này, bản bê tông phía trong dày 22 cm, bên trên có cách nhiệt 25 cm và các lớp bổ sung theo từng phía mái. Bản vẽ cũng thể hiện đường dẫn nước mái. Hai phần mái cùng bao che một phòng, nhưng không sử dụng hoàn toàn cùng lớp ngoài vì vị trí thiết bị và vật liệu khác nhau.

Cửa trượt, sàn và thoát nước sân

Chi tiết hệ cửa giữa phòng và sân ghi khung thép sơn phủ, kính cách nhiệt hai lớp và bộ truyền động cửa trượt. Khe nối với bê tông được xử lý bằng lớp trám màu đen lùi vào mặt. Bên dưới cửa, cấu tạo sàn phòng tiếp tục lớp cách nhiệt và bản bê tông, còn sàn sân có độ dốc về phía thu nước. Mặt ngoài trời và mặt trong phòng được phân biệt rõ trong chi tiết.

Hồ sơ ghi hệ sưởi sàn TABS, tên viết tắt của hệ sử dụng cấu kiện làm bộ phận trao đổi nhiệt. Thông tin dự án do văn phòng cung cấp còn liệt kê thông gió có điều khiển và sử dụng năng lượng mặt trời cho sưởi. Tại đỉnh tường sân có các phần đồng tấm, màng chống thấm và chi tiết máng. Mái sân quanh lỗ mở được thể hiện có độ dốc thoát nước, dù nhìn từ dưới chủ yếu thấy một mép ngang liên tục. Các bộ phận này nằm trong phần bao và mép sân.

Bàn làm việc, vách kính và sân cỏ nhìn từ bên trong phòng.Ảnh: Hisao Suzuki

Quá trình thiết kế và nhóm thực hiện

Hồ sơ dự án ghi quá trình thiết kế bắt đầu năm 2002 và công trình hoàn thành năm 2007. Bardill kể rằng ông và Olgiati đã xem xét nhiều phương án trong quá trình đó. Ông cũng mô tả việc trao đổi với làng về hình thức bê tông đỏ và tổ chức một ngày mở cửa để người dân vào xem.

Nhóm thiết kế có Nathan Ghiringhelli phụ trách dự án, cùng Nikolai Müller và Mario Beeli. Kỹ sư kết cấu là Patrick Gartmann thuộc Conzett, Bronzini, Gartmann AG tại Chur. Linard Bardill được ghi tên cả ở vai trò chủ đầu tư và giám sát thi công. Công trình nhận giải Hase bằng đồng trong hạng mục những ngôi nhà của năm 2007 do Hochparterre và truyền hình Thụy Sĩ bình chọn, theo hồ sơ của chủ nhà.

Đọc thêm +