Khối phòng thí nghiệm trong cơ sở có sẵn
DLR-Labor được xây trong khuôn viên của Trung tâm Hàng không và Vũ trụ Đức tại Stuttgart. Khu đất dành cho nhà mới có diện tích hạn chế, trong khi chương trình cần phòng nghiên cứu, nơi làm việc và những phần giao thông phục vụ nhiều tầng. Những ảnh toàn cảnh cho thấy một khối nhà đứng giữa cây và các công trình khác của cơ sở, với hình bao tương đối gọn và những hàng cửa nằm sát nhau.
Thuyết minh thiết kế đặt cạnh nhau hai yêu cầu: các phòng phải có khả năng thay đổi theo hoạt động nghiên cứu, đồng thời đáp ứng những mức kiểm soát tiếp cận khác nhau. Không phải mọi phần trong nhà đều được sử dụng như một không gian công cộng. Tuyến đi, khu nghỉ và phòng nghiên cứu được xác định thành các vùng riêng. Cách tổ chức ấy được trình bày trong mô hình, mặt bằng và lớp bao che bên ngoài, thay vì chỉ thể hiện qua biển tên của từng phòng sau khi công trình hoàn thành.
Hai vùng không gian trong một thể tích
Mô hình ý tưởng của dự án dùng hình một vỏ hàu dựng đứng để diễn tả hai phần trong cùng thể tích. Một phần dành cho giao thông và những hoạt động chung, phần còn lại cho nghiên cứu. Thuyết minh của nhóm thiết kế dùng hình ảnh này để giải thích cách phân chia chương trình. Công trình đã xây không mang hình dáng cong của vỏ hàu; mặt đứng vẫn là một hệ khối thẳng và các mặt sàn ngang.
Trên mỗi tầng, những vùng này có vị trí cụ thể trong mặt bằng. Lối đi và khoảng chung tiếp xúc với mặt kính ở một số cạnh, trong khi các phòng được bố trí trong phần diện tích nghiên cứu. Các tấm vách và cửa xác định giới hạn sử dụng ở những vị trí khác nhau. Nhìn từ trong ra ngoài, một số vùng cho thấy rõ cây và bầu trời; một số khác nhìn qua lớp kính mờ chỉ nhận ánh sáng. Hai nhóm điều kiện đó tiếp tục được phân biệt ở các tầng phía trên.
Lõi bê tông đặt sang một bên
Lõi chính được đặt lệch về một phía của khối nhà, với bề mặt bê tông để lộ. Các tuyến giao thông và những phần phục vụ tập trung quanh vị trí này. Mô hình mặt cắt cho thấy các sàn nối với một hệ đứng bên cạnh, còn phần diện tích còn lại có thể tổ chức theo những yêu cầu phòng khác nhau. Lõi không nằm ở chính giữa rồi chia mọi phía thành các khoảng sâu giống nhau.
Trong ảnh bên trong, tường bê tông có mặt đặc lớn, xen những cửa và mép sàn. Các chi tiết kỹ thuật, khung cửa và tấm kính được lắp cạnh bề mặt đó. Có nơi một khoảng đi kéo dài giữa tường trong và mặt đứng; có nơi chiều sâu mở rộng thành vùng chung. Các bản vẽ chỉ ra vị trí cột, lõi và những phần chia phòng, nên có thể phân biệt phần kết cấu với vách được bố trí cho chương trình. Những bộ phận bê tông tiếp tục theo nhiều tầng, trong khi cách sử dụng trên từng mặt sàn có thể khác nhau.
Những phòng dành cho nghiên cứu
Khu nghiên cứu được mô tả với các vách có thể bố trí lại, theo những thay đổi của hoạt động phòng thí nghiệm. Những phần ngăn chia không được gắn thành một chuỗi phòng xây kín hoàn toàn cố định ngay trong kết cấu chính. Mặt bằng cho thấy hệ bàn, các tuyến thao tác và những vị trí phục vụ được tổ chức trong phần diện tích riêng, bên cạnh tuyến đi chung.
Ảnh chụp phòng trước khi lắp nội thất cho thấy một không gian rộng với cột, mặt sàn trống và các tuyến kỹ thuật phía trên. Một phần thiết bị và đường ống nằm sát tường; phần khác chạy dưới trần. Ánh sáng đến qua mặt đứng, nhưng những vùng kính mờ không cho nhìn rõ toàn bộ không gian ra bên ngoài. Hệ kỹ thuật được để lộ, khác một phòng văn phòng được đóng kín bằng trần trang trí. Những hình ảnh này ghi lại trạng thái chưa bố trí đầy đủ bàn và thiết bị nghiên cứu. Khả năng thay đổi vách và cách sắp xếp các vị trí làm việc là điều tác giả mô tả cho cấu trúc phần nghiên cứu, không phải một thay đổi đã được chứng minh qua bộ ảnh ở nhiều thời điểm.
Dải đi lại bên mặt kính
Những tuyến đi bên mặt đứng có bề rộng và độ mở khác với các phòng nghiên cứu. Ở một ảnh, hành lang kéo dài dọc các tấm kính cao, với mép sàn và các bóng nắng lặp theo nhịp khung. Ở góc khác, dải đi mở vào một vùng rộng hơn, có tường bê tông và khoảng nhìn tới các cửa phòng. Các phần chung không tạo thành một phòng lớn liên tục xuyên suốt chiều cao nhà.
Mỗi tầng vẫn có mặt sàn riêng và giới hạn đứng của mình. Liên hệ giữa chúng đi qua hệ thang và những phần nối thuộc lõi. Bên ngoài, các dải kính cùng cao độ sàn thể hiện việc xếp tầng ấy. Người đi ở vùng chung có thể nhìn về cây hoặc các khối nhà khác của khuôn viên qua những mặt kính trong. Ở phía đối diện của lối đi là những cửa, tường và bộ phận phục vụ của chương trình nghiên cứu. Mặt cắt và ảnh giúp phân biệt hai phía của dải giao thông trên cùng một cao độ.
Kính trong và kính mờ
Lớp mặt đứng kết hợp những mảng kính có độ trong khác nhau. Có tấm cho thấy sàn, thiết bị và bề mặt phòng ở sau; có tấm có màu nhạt, che bớt các chi tiết bên trong. Sự thay đổi không chạy thành một hình trang trí tách khỏi các tầng. Nó gắn với cách phân vùng riêng và chung được mô tả trong phương án, cùng những yêu cầu khác nhau về mức độ nhìn xuyên.
Các ảnh bên ngoài cho thấy hệ khung chia mặt đứng thành những ô đứng và ngang. Những hàng cửa tiếp tục qua các tầng nhưng có các đoạn đặc, trong hoặc mờ thay đổi. Một bề mặt kính nằm sau bóng cây cho hình ảnh khác với phần kính nhận trực tiếp ánh sáng trời. Ở bên trong, những thay đổi về độ trong được nhận ra bằng tầm nhìn và các vùng sáng trên sàn. Các góc nhà giữ những đường thẳng của hình bao, trong khi lớp kính phản chiếu làm bề mặt có những sắc độ khác nhau theo vị trí chụp.
Hình vẽ trên các bề mặt chung
Büro für Konstruktivismus thực hiện hệ hình vẽ có tên Rabbits Superbright cho phần không gian chung. Các đường nét xuất hiện trên bề mặt bê tông ở những vị trí khác nhau của tuyến đi. Thuyết minh công trình ghi việc đưa chuỗi hình này vào các vùng giao thông và nghỉ, vốn không tạo một không gian liên tục hoàn toàn theo hình ảnh mô hình ý tưởng.
Hạng mục đồ họa được ghi riêng với tên tác giả trong hồ sơ dự án, bên cạnh các phần kiến trúc và kỹ thuật. Các vùng chung cũng có những mặt bê tông để lộ, cửa phòng và những vị trí nhìn qua lớp kính ra ngoài. Mặt bằng phân biệt tuyến đi với phần diện tích phòng nghiên cứu; những bề mặt tường xuất hiện ở mép các vùng đó. Việc ghi nhận hệ hình vẽ thuộc chương trình hợp tác của công trình, trong khi bộ ảnh về các phòng chưa lắp nội thất thể hiện rõ hơn kết cấu, đường ống và các lớp kính tại thời điểm chụp.
Các phần kỹ thuật và hồ sơ thực hiện
Nhóm thiết kế gồm Arno Brandlhuber, Markus Emde, Martin Kraushaar, Björn Martenson cùng Asterios Agkathidis và Jörg Leeser. Hồ sơ ghi osd phụ trách kết cấu, knp.bauphysik tham gia vật lý công trình, cùng các đơn vị kỹ thuật khác. Trang dự án của b+ và Studio Emde ghi quá trình 2002–2005. Những tài liệu khác còn ghi các mốc trong giai đoạn xây dựng; ở đây năm 2005 được dùng theo hồ sơ hoàn thành của nhóm thiết kế.
Ảnh công trình cho thấy những phòng còn trống, với đường ống và thiết bị kỹ thuật lắp sẵn, các dải giao thông có mặt kính hoàn chỉnh và những phần bê tông để lộ bề mặt. Bên ngoài, cây trong khuôn viên đứng gần nhà và phản chiếu trên các ô kính. Mặt bằng ghi những vùng nghiên cứu có thể bố trí lại cạnh hệ phục vụ; mặt cắt thể hiện các sàn xếp tầng cùng vị trí lõi đứng. Các thành phần đó tạo nên bố cục cụ thể của DLR-Labor trong khu đất giới hạn của cơ sở nghiên cứu Stuttgart.


