Khu đất chưa xây trong hơn nửa thế kỷ
Công trình ở Geisselstrasse nằm tại Ehrenfeld, một khu dân cư của Cologne gồm các tòa nhà hình thành trong nhiều thời kỳ sau chiến tranh. Khu đất rộng 6,6 mét và sâu 42 mét nằm giữa hai công trình có sẵn. Theo hồ sơ thiết kế, khoảng trống này không được phát triển trong hơn năm mươi năm do các điều kiện pháp lý và quan hệ phức tạp với xung quanh.
Dự án được thực hiện trong giai đoạn 1997–2000. Nhóm thiết kế gồm Arno Brandlhuber, Bernd Kniess, Anne-Julchen Bernhardt và Björn Martenson. Chương trình kết hợp nhà ở với atelier của chủ nhà. Hình dạng công trình được tổ chức từ các giới hạn về khoảng cách, chiều cao, kết cấu hiện hữu và khối tích được phép xây. Những yêu cầu này liên quan trực tiếp đến việc các nhà ở phía sau tiếp tục nhận ánh sáng sau khi khu đất được bổ sung công trình.
Các chiều cao thay đổi theo chiều sâu
Một công trình lân cận đã được xây với hai tầng theo điều kiện ngoại lệ. Việc xây thêm trên khu đất bên cạnh vì thế đặt ra lo ngại về ánh sáng đến những nhà ở phía sau. Phương án Geisselstrasse sử dụng hình khối bậc thang, thay đổi chiều cao dọc khu đất thay vì tạo một khối dài có cùng độ cao từ trước đến sau.
Ở phía phố là nhà ba tầng, chứa phần ở và xưởng làm việc của chủ nhà. Phía cuối khu đất là nhà vườn hai tầng dành cho các con. Giữa hai khối là một phần nối thấp hơn. Tổ chức này chia chiều sâu 42 mét thành các vùng xây dựng và khoảng mở. Các cao độ khác nhau tạo điều kiện cho sân, sân mái và những mặt tiếp xúc bên ngoài xuất hiện trong một khu đất hẹp nằm giữa môi trường có mật độ xây dựng cao.
Nhà phía trước và nhà vườn phía sau
Khối gần phố chứa atelier cùng những phòng ở của gia đình. Khối phía sau có cấu trúc nhỏ hơn, hai tầng, liên hệ với khu vườn. Hai phần không tách biệt hoàn toàn mà được nối bằng một bộ phận một tầng. Trong phần nối có các không gian dùng chung, gồm bếp và phòng tắm, theo thuyết minh của dự án.
Bộ phận này có khả năng phân tách, tạo cho hai đơn vị một quan hệ không hoàn toàn cố định. Cấu trúc tổng thể vừa cho phép đi từ trước đến sau, vừa giữ những nhóm phòng có vị trí riêng. Phần nhà phố, đoạn nối và nhà vườn không được hợp thành một mặt bằng lặp lại nguyên vẹn trên các tầng. Mỗi bộ phận có chiều cao và chương trình tương ứng, trong khi những khoảng sân nằm giữa chúng đưa mặt ngoài vào sâu trong khu đất.
Sân, vườn và mái có thể sử dụng
Không gian ngoài trời xuất hiện ở nhiều cao độ: vườn tầng trệt, sân trong, sân hiên và vườn trên mái. Các khoảng này có kích thước khác nhau và liên hệ với từng phần nội thất. Trên khu đất sâu, chúng tạo những vùng tiếp xúc với ngoài trời nằm giữa hai đầu phố và vườn sau.
Bản vẽ mặt bằng và mặt cắt thể hiện các sân cùng những cầu nối và sân mái. Các phần rỗng không được dồn toàn bộ về một khoảng cuối nhà. Chúng xen vào giữa các khối ở và làm việc, trở thành những đoạn trong chuỗi không gian dọc khu đất. Tổng diện tích sử dụng khoảng 360 mét vuông được phân bố qua các khối có độ cao khác nhau. Các khoảng ngoài trời cùng tồn tại với diện tích xây dựng ấy trong một tổ chức gồm nhiều phần, thay vì một khối kín kéo dài hết chiều sâu.
Hai hệ bao che trên kết cấu bê tông
Kết cấu chính bằng bê tông được bao quanh bởi hai hệ mặt đứng khác nhau. Ở atelier, lớp ngoài dùng các tấm polycarbonate nhiều lớp cùng cửa chớp nhôm. Hệ này tạo bề mặt có độ xuyên sáng khác với kính trong, phù hợp với cách tổ chức không gian làm việc được thể hiện trong hồ sơ.
Nhà vườn dùng kính cách nhiệt kết hợp những tấm gỗ trượt. Các tấm trượt tạo thành lớp có thể thay đổi trước mặt kính. Vì thế, hai khối không dùng chung một mặt đứng đồng nhất dù cùng thuộc một dự án và có kết cấu bê tông. Vật liệu của atelier và nhà vườn được phân biệt theo từng phần chương trình. Các bề mặt này gặp những khoảng sân và vườn ở các vị trí khác nhau, tạo những mức độ mở riêng giữa phần trong nhà với chuỗi khoảng ngoài trời của khu đất.
Tổ chức nơi ở và nơi làm việc
Mặt bằng ghi nhận atelier, khu bếp và sinh hoạt, gara, phòng riêng, phòng ngủ và không gian tắm, bên cạnh sân và các đoạn nối. Nơi ở và nơi làm việc được đưa vào cùng khu đất nhưng không bị đặt trong một phòng duy nhất. Chúng có những phần riêng, đồng thời liên hệ qua hệ không gian chung và ngoài trời.
Công trình nhận Kölner Architekturpreis năm 2000, được ghi nhận dưới loại nhà ở có atelier. Trong cấu trúc đã thực hiện, hình khối không đều của dự án gắn với những điều kiện cụ thể của lô đất và các công trình xung quanh. Khối ba tầng phía phố, nhà vườn hai tầng, phần nối một tầng và các sân tạo thành những đoạn liên tục. Mỗi đoạn có quan hệ riêng với ánh sáng, bề mặt bao che và chương trình sử dụng, trong khi toàn bộ vẫn thuộc một hệ nhà ở và làm việc xuyên qua khu đất hẹp.


