Từ nhà kho tới bảo tàng
Atelier-Museu Júlio Pomar nằm trên Rua do Vale, trong một khu phố lịch sử của Lisbon. Chính quyền thành phố mua công trình vào năm 2000 cho một dự án gắn với họa sĩ Júlio Pomar. Theo gợi ý của chính nghệ sĩ, việc chuyển đổi ngôi nhà cũ được giao cho Álvaro Siza. Công trình mở cửa năm 2013, kết hợp lưu giữ, giới thiệu tác phẩm và các hoạt động văn hóa liên quan tới nghệ thuật đương đại.
Ngôi nhà trước khi cải tạo là một kho cũ nằm trong cấu trúc phố có nhiều tường ranh và công trình sát nhau. Phương án giữ thể tích chính, đồng thời loại bỏ các phần xây thêm ở phía sau trong khu đất. Bởi vậy, thay đổi không chỉ diễn ra trong nội thất. Những phần bị dỡ bỏ tạo chỗ cho sân và lối tiếp cận, trong khi khối nhà chính tiếp tục giữ mái dốc cùng tỷ lệ dài, hẹp của mặt bằng. Từ ngoài phố, bảo tàng vẫn thuộc cùng dãy công trình thay vì đứng riêng giữa một quảng trường.
Mặt phố và lối vào bên cạnh
Trên Rua do Vale, mặt đứng có các cửa được bố trí theo nhịp của tòa nhà cũ. Dự án mở thêm ba ô cửa nhưng giữ cách tạo hình và khoảng cách tương ứng với những cửa đã có. Màu tường sáng và chân nhà nối tiếp đường phố dốc, nơi các mặt đứng bên cạnh nằm gần nhau. Một số cửa ở tầng dưới có độ cao khác với cửa ở phần trên, phản ánh các mức sàn trong nhà sau cải tạo.
Lối vào công cộng không dẫn thẳng từ một cánh cửa giữa mặt phố tới gian triển lãm. Người tới đi qua phần sân có dốc ở phía tây nam. Sân nằm giữa tường nhà chính và các giới hạn xây dựng của khu đất. Từ đây có thể tiếp cận cửa bảo tàng, thang và thang máy lên mức cao hơn. Trong ảnh dọc sân, các mảng tường trắng, mái ngói và một phần nhà ở cuối tuyến tạo thành các lớp nhìn khác với mặt đứng nhìn từ ngoài đường.
Sân dốc trong khu đất hẹp
Sân có nền lát và các mặt tường cao ở hai phía. Một đường dốc xử lý sự chênh cốt giữa các điểm tiếp cận, bên cạnh những đoạn bậc và cửa. Đây là phần ngoài trời nằm trong khu đất đã được giải phóng khỏi các phần xây thêm trước đó. Nó không rộng như một quảng trường trước bảo tàng, nhưng có chiều dài đủ để nhìn dọc theo tường của khối nhà chính và nhận biết mái, cửa cùng các công trình kề bên.
Ở một đầu sân có phần xây mới dành cho tiếp nhận và vệ sinh. Dưới đường dốc là tầng kỹ thuật của dự án. Những chức năng nhỏ và hệ tiếp cận được đưa ra vùng biên, để gian nhà chính dành phần lớn diện tích cho trưng bày. Nhìn từ sân lên, cửa ở các mức khác nhau làm rõ quan hệ giữa tầng trệt và phần tầng lửng. Các tường ranh vẫn hiện diện, cho thấy công trình được cải tạo trong một ô đất đô thị đã có những giới hạn cụ thể từ trước.
Một khoảng cao ở giữa nhà
Bên trong là gian trưng bày có phần tầng lửng chạy quanh một khoảng rỗng lớn ở giữa. Từ sàn thấp, có thể nhìn tới lan can và các tác phẩm ở mức trên; từ tầng lửng, người xem nhìn xuống những bức tường và mặt sàn phía dưới. Hai mức trưng bày vì thế giữ quan hệ thị giác trực tiếp qua khoảng cao, thay vì trở thành hai tầng khép kín được ngăn bằng một sàn phủ toàn bộ diện tích.
Mép tầng lửng có những đoạn chạy song song với tường ngoài và những chỗ đổi hướng theo các phòng. Lan can kim loại tạo một đường ngang mảnh trước những bức tường trắng. Ở các góc chụp, cùng một tác phẩm có thể xuất hiện ở nền của tầng này nhưng nằm thấp hoặc cao hơn khi người xem dịch sang tầng kia. Khoảng rỗng cũng để lộ các vì kèo mái, nên hệ kết cấu cũ và phần sàn bổ sung cùng được thấy trong một không gian.
Giữ lại hệ mái cũ
Mái được sửa bằng gỗ, ngói Marseille và các lớp cách nhiệt, trong khi các vì kèo hiện có được giữ lại. Trong ảnh nội thất, những thanh gỗ sơn sáng nằm dưới mặt mái dốc, tạo các hình tam giác và đường chéo ở phía trên phòng. Chúng không bị che kín sau một trần phẳng mới. Dưới hệ vì kèo, các tường trưng bày và lan can tầng lửng giữ phương đứng, ngang rõ ràng, khác với các mặt nghiêng của mái.
Các cửa cao đưa ánh sáng vào phía trên gian phòng. Một số ô nằm gần đầu hồi hoặc phía dưới đường mái; những ô khác ở mức thấp hơn cạnh diện tích trưng bày. Khi nhìn từ tầng lửng, khoảng cách tới hệ vì kèo ngắn hơn nhiều so với khi đứng ở tầng trệt. Những bộ phận từng thuộc gian kho một tầng cao nay xuất hiện cạnh một mức sàn mới. Công trình vì thế giữ chiều cao của nhà cũ nhưng có thêm các vị trí đứng và góc nhìn trong khoảng cao ấy.
Các diện tường dành cho tác phẩm
Bộ ảnh sau hoàn thành ghi những tác phẩm và tư liệu được treo ở cả hai mức. Trên tầng lửng, các bức tường dài tạo những dải trưng bày đi theo chu vi. Ở tầng thấp, những mảng tường lớn nằm bên dưới mép sàn mới và cạnh các cửa. Một số tác phẩm có kích thước lớn, số khác được xếp thành nhóm nhiều khung. Sàn gỗ để lại khoảng trống trước các diện tường, còn một vài bàn trưng bày đứng riêng trong gian.
Các vật trưng bày không phủ kín mọi bề mặt. Cửa sổ, cửa đi, lan can và các chỗ đổi chiều của tường vẫn giữ những khoảng ngắt. Từ nhiều vị trí có thể thấy đồng thời tác phẩm ở mức đang đứng và ở tầng đối diện qua khoảng rỗng giữa nhà. Hình ảnh này gắn với đợt trưng bày được ghi trong bộ ảnh; việc bố trí tác phẩm có thể thay đổi theo chương trình bảo tàng, trong khi sàn, hệ mái và các lối nối giữa tầng vẫn là những phần cố định của công trình.
Ánh sáng và những ô cửa có sẵn
Các cửa trên mặt phố và phía sân đưa ánh sáng vào từ hai phía khác nhau của khối nhà. Trong gian chính, những vùng sáng xuất hiện trên tường trắng, sàn gỗ và các thanh mái. Ở gần cửa, khung cửa sổ được nhìn rõ; tại những vị trí ở sâu hơn, ánh sáng xuất hiện như một mảng trên bề mặt thay vì một cảnh nhìn trực tiếp ra phố. Những ô cao cũng cho phép phần trên gian nhà có một nguồn sáng khác với cửa ở gần mặt sàn.
Chiều cao và vị trí của tầng lửng khiến mỗi mức có quan hệ khác nhau với các cửa. Có cửa nằm gần sàn trên nhưng ở khá cao khi nhìn từ tầng trệt. Một ô cửa khác mở ngay cạnh lối đi dưới mép tầng lửng. Trong các ảnh, ánh sáng tự nhiên cùng tồn tại với các thiết bị chiếu sáng phục vụ trưng bày. Không gian vì thế có cả những phần giữ nguyên vị trí cửa cũ, những ô được bổ sung trên mặt đứng và hệ đèn được bố trí trong nhà sau chuyển đổi.
Những phần mới trong thể tích được giữ lại
Phần bổ sung quan trọng nhất ở gian chính là tầng lửng, nhưng dự án còn có khu tiếp nhận, vệ sinh, tầng kỹ thuật, thang và thang máy. Chúng tạo điều kiện để một nhà kho cũ hoạt động như một cơ sở đón khách. Các bộ phận này có vị trí cụ thể ở sân hoặc quanh biên nhà, không được diễn đạt bằng một khối mới cao hơn mái cũ. Mặt phố, thể tích mái và các vì kèo tiếp tục xác định hình ảnh chính của công trình.
Nhìn từ ngoài vào, bảo tàng được nhận biết qua lối sân, cửa và những mặt tường sáng giữa dãy phố. Nhìn từ trong, phần thay đổi thể hiện ở hai mức sàn quanh khoảng rỗng và các lối tiếp cận mới. Những giới hạn cũ như tường ranh, mái dốc và nhịp cửa vẫn xuất hiện cạnh các bộ phận được thêm. Hồ sơ và bộ ảnh ghi lại một quá trình chuyển đổi có dỡ bỏ, giữ lại và xây thêm, trong đó các hoạt động dành cho tác phẩm Júlio Pomar nằm trong thể tích của nhà kho cũ.


