Một trung tâm chung trong khuôn viên EPFL

Rolex Learning Center nằm trong khuôn viên Trường Bách khoa Liên bang Lausanne, thường gọi là EPFL. SANAA giành giải nhất cuộc thi thiết kế và phát triển công trình trong giai đoạn 2005–2010. Công trình mở cửa vào tháng 2 năm 2010, sau đó được khánh thành chính thức ngày 27 tháng 5. Thư viện, phòng học tập, văn phòng, hội trường đa năng, quán cà phê và nhà hàng cùng nằm trong một tổ hợp phục vụ nhà trường và công chúng.

Tầng sử dụng chính có mặt bằng chữ nhật, dài khoảng 166,5 m và rộng 121,5 m. Công trình được đặt ở giữa khu đất. Trong thuyết minh thiết kế, Sejima và Nishizawa giải thích rằng việc gom chương trình vào một tầng nhằm tạo đường tiếp cận từ nhiều hướng của khuôn viên. Bên dưới tầng này còn có tầng hầm; vì vậy, mô tả một tầng chính không đồng nghĩa toàn bộ công trình chỉ có một cao độ sử dụng.

Toàn cảnh công trình và những sân mở trên mái nhìn từ trên cao.Ảnh: Hisao Suzuki

Đường vào từ khoảng trống dưới sàn

Mặt sàn không nằm sát đất trên toàn bộ diện tích. Ở những đoạn sàn nâng lên, phía dưới hình thành các khoảng thông qua công trình. Người đi bộ từ những phía khác nhau có thể đi dưới lớp sàn bê tông để đến cửa vào ở vùng giữa. Các lối này nằm ngoài không gian có kính bao che và nối với đường đi trong khuôn viên.

Sảnh trung tâm tập hợp lối vào, điểm nhận thông tin và các hướng đi tới những khu chức năng. Trên mặt bằng, các đường đi tiếp tục qua vùng sàn thấp rồi lên những vùng cao hơn. Cửa vào vì thế không nằm ở đầu một hành lang xuyên suốt nhà. Mối liên hệ giữa sảnh và từng khu vực được tổ chức bằng mặt sàn liên tục, các sân mở và vị trí đặt bàn ghế. Tầng hầm có đường tiếp cận riêng, thể hiện cùng hệ giao thông phục vụ trên mặt bằng phía dưới.

Lối đi bên dưới phần sàn nâng cao và mặt kính chạy dọc nhà.Ảnh: Hisao Suzuki

Các cao độ bên trong

Sàn và mái cùng uốn lên xuống, tạo thành những vùng cao và thấp có quy mô khác nhau. Các mặt cắt thể hiện rõ nhiều phần sàn nâng lên phía trên khoảng trống ngoài trời, trong khi mái tiếp tục che phủ không gian sử dụng ở trên. Độ dốc thay đổi theo từng đoạn, không tạo thành một mái dốc đều từ đầu này sang đầu kia.

Theo cách phân bố do SANAA mô tả, những vùng cao có tầm nhìn xa được dành cho chỗ học và nhà hàng. Những vùng thấp hơn, ở gần các sân nhỏ, chứa các cụm văn phòng. Giữa các khu vực vẫn có những đường đi liên tục. Mặt bằng thể hiện cả đường đi uốn theo sàn lẫn những đoạn đổi hướng nhiều lần để nối các cao độ. Bàn học, giá sách và các phòng nhỏ đặt trên những phần sàn tương ứng với từng hoạt động, thay vì chia toàn bộ diện tích thành một dãy phòng có kích thước giống nhau.

Không gian bên trong với nền dốc, cột trắng và các nhóm bàn ghế.Ảnh: Hisao Suzuki

Sân mở và các khoảng lấy sáng

Nhiều khoảng rỗng xuyên qua mái và sàn được phân bố bên trong đường bao chữ nhật. Chúng có kích thước và hình dạng khác nhau: có sân lớn kéo dài, có khoảng nhỏ gần tròn, có sân với đường viền cong không đều. Kính bao quanh các khoảng này trở thành một phần mặt ngoài của công trình, dù vị trí của chúng nằm sâu bên trong mặt bằng.

Các sân lớn tạo những đoạn đường vòng đáng kể giữa các khu sử dụng. Các sân nhỏ tập trung gần một số cụm phòng và chỗ làm việc. Thuyết minh của SANAA xác định sân, khoảng lấy sáng và đường cao độ là các yếu tố phân chia khu hoạt động. Từ đó, thư viện, chỗ ngồi và các phòng riêng có nhiều quan hệ khác nhau với bên ngoài: nhìn qua kính quanh sân, nhìn xuyên qua một đoạn không gian chung hoặc hướng ra cảnh quan quanh khuôn viên.

Những bàn dài đặt cạnh vách kính, trên phần sàn cao hơn lối đi.Ảnh: Hisao Suzuki

Thư viện, phòng nhóm và hội trường

Khu thư viện gồm các dãy giá sách, bàn đọc và những chỗ học bố trí gần mép kính. Các cụm phòng nhỏ có đường bao cong đứng độc lập trong mặt bằng lớn. Những phòng này có cửa riêng, trong khi không gian bàn học phía ngoài tiếp tục nối với đường đi chung. Cách bố trí này cho phép nhận ra các khu làm việc nhóm, các chỗ đọc và phần giao thông mà không cần một hệ hành lang kín bao quanh từng khu.

Ở thời điểm khai trương, chương trình thư viện được công bố với khoảng 500.000 ấn phẩm in và bốn khu học có tổng cộng 860 chỗ. Mười phòng nhóm được gọi là các “bubble” phục vụ hội thảo và trao đổi. Rolex Forum có sân khấu và các hàng ghế xếp theo đường cong, sử dụng cho hội nghị, bài giảng và biểu diễn. Quán cà phê và nhà hàng nằm ở các vị trí khác nhau trong tổ hợp, có đường tiếp cận từ không gian chung.

Vùng sàn rộng cạnh thư viện, với các dãy sách sau vách kính.Ảnh: Hisao Suzuki
Các hàng ghế của khán phòng nằm trên nền có độ dốc.Ảnh: Hisao Suzuki

Vỏ bê tông và hệ kết cấu bên dưới

Lớp sàn uốn được tổ chức như một kết cấu vỏ bê tông cốt thép. Thuyết minh kết cấu mô tả việc sử dụng phân tích phần tử hữu hạn để xác định hình học của vỏ và kiểm tra lực tác dụng. Các vùng vỏ tiếp đất, vùng nhịp lớn và vị trí quanh sân mở không có cùng điều kiện chịu lực. Ở dưới, hệ sàn bê tông và các cấu kiện đứng tiếp nhận tải từ những điểm đỡ.

Bản sàn nằm ngang phía dưới còn tham gia giữ lực đẩy ngang của kết cấu vỏ. Theo hồ sơ của INGPHI, vỏ dày 60 cm và được tăng thêm 20 cm ở các dải vòm chịu lực lớn. Phần mái phía trên sử dụng dầm thép chính cùng dầm gỗ ghép cong thứ cấp. Như vậy, mặt sàn và mái có đường cong liên hệ với nhau nhưng sử dụng các hệ kết cấu khác nhau. Những cột thép mảnh trong không gian sử dụng thuộc hệ đỡ mái, còn lớp bê tông phía dưới tạo ra các nhịp vượt trên lối đi ngoài trời.

Mặt dưới vỏ bê tông cạnh một sân trong.Ảnh: Hisao Suzuki

Ván khuôn và việc đổ bê tông

Hình dạng cong hai chiều của vỏ được chuyển sang hệ ván khuôn gỗ gia công bằng máy CNC. INGPHI ghi nhận khoảng 1.400 mô-đun ván khuôn, mỗi mô-đun khoảng 2,5 × 2,5 m. Mỗi phần có hệ chống điều chỉnh riêng. Tổ hợp nhiều phần này tạo mặt đỡ cho lớp bê tông liên tục.

Trong các vùng tập trung lực, cốt thép lớn được nối đầu với đầu thay vì chồng nối. Bên trên nó, phần hoàn thiện sàn, lớp kính và kết cấu mái được lắp thành các hệ riêng; mặt cắt chi tiết thể hiện lớp cách nhiệt và các vị trí tiếp giáp ở cả mép trên lẫn mép dưới của kính.

Mặt kính và các bộ môn phối hợp

Kính chạy dọc chu vi ngoài và bao quanh các sân mở. Ở mỗi vị trí, chiều cao mép sàn và mái thay đổi theo hình học của công trình. Chi tiết mặt đứng phân biệt hệ kính, cấu kiện đỡ kính, mép sàn và mép mái; các cấu kiện này không được gộp thành một bức tường bê tông liền với vỏ chịu lực. Những lớp hoàn thiện, cách nhiệt và chống thấm kết thúc tại đường bao kính.

SANAA làm việc với Architram tại Thụy Sĩ trong vai trò kiến trúc sư địa phương. SAPS cùng Mutsuro Sasaki tham gia tư vấn kết cấu; các đơn vị kỹ thuật gồm Bollinger und Grohmann, WMM và những đối tác tại Thụy Sĩ. Losinger đảm nhiệm xây dựng. Hồ sơ dự án còn ghi riêng các bộ môn mặt đứng, năng lượng, cơ điện và âm học. Emmer Pfenninger Partner phụ trách tư vấn mặt đứng, Sorane phụ trách ý tưởng năng lượng, còn EcoAcoustique tham gia thiết kế âm học cho các không gian trong trung tâm.

Đọc thêm +