Khu đất tại Itabashi

Tokyo Apartment được thiết kế và xây dựng trong giai đoạn 2006–2010 tại Itabashi, Tokyo. Khu đất nằm ở góc đường, giữa một khu dân cư thấp tầng. Diện tích khu đất là 83,14 mét vuông, diện tích chiếm đất khoảng 58,19 mét vuông và tổng diện tích sàn khoảng 180,7 mét vuông. Chương trình gồm các căn hộ và phần ở của chủ nhà. Các phòng được đặt chồng lên nhau, với cầu thang chạy dọc phía ngoài các khối.

Trên khu đất nhỏ, diện tích sử dụng được bố trí ở nhiều cao độ, gồm cả phần tầng hầm. Những khối phòng phía trên không giữ nguyên vị trí và hướng của các khối dưới. Một số xoay theo góc khác; một số đặt lùi để dành chỗ cho cầu thang và chiếu nghỉ. Ở mặt đứng, tường trắng, mái dốc, cửa và các đợt thang cùng xuất hiện trong phạm vi hẹp của khu đất.

Công trình nằm giữa những ngôi nhà và đường dây điện trong khu phố.Ảnh: Hisao Suzuki

Tên dự án và quá trình phát triển

Fujimoto gọi công trình là Tokyo Apartment ngay từ giai đoạn lập phương án. Ông giải thích rằng đây là công việc đầu tiên văn phòng nhận tại Tokyo, sau một thời gian chủ yếu làm dự án ở các địa phương khác. Vì vậy, ông muốn đưa vào thiết kế những quan sát riêng về cách nhà ở và đường phố liên hệ với nhau tại thành phố này.

Trong một cuộc trao đổi về dự án, Fujimoto kể rằng khi chuyển từ Hokkaido đến Tokyo, ông từng sống trong một căn hộ rộng khoảng sáu chiếu tatami. Đường từ cửa phòng qua cầu thang tới con phố nhỏ khiến ông chú ý đến chuỗi không gian bên ngoài căn hộ. Ông liên hệ quan sát đó với Tokyo Apartment: một đơn vị ở có thể gồm các phòng riêng cùng đoạn đường ngoài trời nối giữa chúng. Đây là ý tưởng được kiến trúc sư nêu khi giải thích dự án.

Cầu thang ngoài nối các khối nhà ở những cao độ khác nhau.Ảnh: Hisao Suzuki

Các khối phòng có mái dốc

Mỗi khối phía trên mang hình dạng một ngôi nhà nhỏ với hai mặt mái dốc và tường đầu hồi. Khi các khối đặt lên nhau, mái của phòng thấp xuất hiện ngay dưới sàn hoặc bên cạnh phòng cao hơn. Những mái này vẫn được thể hiện đầy đủ trong mặt cắt, kể cả tại vị trí nằm giữa các khối chồng tầng. Hình dáng mái không chỉ xuất hiện ở đường viền trên cùng của toàn công trình.

Các phòng có kích thước và hướng khác nhau. Mặt bằng tầng trên thể hiện một khối xoay chéo so với các phòng cạnh nó, trong khi một khối khác giữ hướng gần với phần nhà bên dưới. Các đầu hồi vì thế không cùng nhìn về một phía. Những khoảng còn lại giữa các khối chứa cầu thang, chiếu nghỉ và khoảng hở ngoài trời. Lớp phủ trắng dùng cho cả tường lẫn mái làm các khối có màu bề mặt thống nhất.

Phòng có mái dốc và cửa mở nhìn qua một không gian bên cạnh.Ảnh: Hisao Suzuki

Phòng ở và các cao độ trong căn hộ

Mỗi đơn vị ở kết hợp hai hoặc ba phòng hình ngôi nhà, đặt tại những cao độ khác nhau. Các phòng thuộc một căn không nhất thiết nằm kề nhau trên cùng một tầng. Thuyết minh của Fujimoto nêu cách ghép một phòng ở thấp với một phòng phía trên, liên hệ qua thang bên ngoài. Bản vẽ phân biệt các nhóm bằng ký hiệu A, B, C và D, thể hiện chúng xuyên qua nhiều mặt bằng.

Phần tầng hầm nằm dưới các khối ở sát mặt đất. Trên những tầng phía trên, khu bếp và phòng tắm được ghép vào một số khối cùng diện tích sinh hoạt. Bồn tắm, chậu rửa, nhà vệ sinh và bàn bếp đặt dọc các cạnh phòng để phần sàn chính còn liền mạch. Một số khối có lối nối bên trong bằng thang gỗ, bên cạnh hệ cầu thang ngoài trời là đặc điểm chung của tổ hợp.

Bếp nhỏ đặt sát cửa sổ trong một căn hộ.Ảnh: Hisao Suzuki

Cầu thang và chiếu nghỉ bên ngoài

Các đợt thang ngoài nối từ mặt đất lên chiếu nghỉ cạnh cửa rồi tiếp tục lên những khối cao hơn. Thang đổi hướng theo vị trí phòng, chạy sát tường hoặc nằm cạnh mặt mái dốc. Chiếu nghỉ thường gắn trực tiếp với cửa vào một phòng. Các tuyến này không nằm trong một buồng thang khép kín chung cho toàn công trình.

Bậc thang ngoài dùng bản thép sơn trắng, với các thanh thép tạo thành tay vịn và lan can. Các cấu kiện thang được tách khỏi lớp tường kim loại bao phòng và liên kết tại những vị trí cụ thể. Trong giải thích của mình, Fujimoto xem việc đi qua đoạn thang bên ngoài là một phần của sinh hoạt trong căn hộ. Ông dùng hình ảnh đi giữa chân và đỉnh một ngọn núi để mô tả mối liên hệ giữa các phòng trên những cao độ khác nhau.

Khu vệ sinh có vách kính ở cạnh phòng sinh hoạt.Ảnh: Hisao Suzuki

Cửa sổ, ô mái và phần trần nghiêng

Các khối có cửa sổ trên tường và ô lấy sáng trên mái. Cửa ở đầu hồi thường nằm dưới đỉnh mái; các ô bên hông mở về phía thang hoặc nhà xung quanh. Tại một số phòng, ô cửa có cạnh chéo theo cấu tạo mái hoặc phần tiếp giáp giữa các khối. Những đoạn tường đặc nằm giữa cửa và góc phòng tiếp tục xuống tới sàn.

Bên trong, trần đi theo hai mặt mái dốc. Ô mái đưa ánh sáng trực tiếp vào phần cao của phòng, trong khi cửa đứng đặt ở các mặt tường khác nhau. Mặt cắt một khối phía trên thể hiện cửa trên mái nằm lệch về một bên đỉnh. Các phòng dùng sàn gỗ màu tự nhiên, còn tường và trần sơn trắng. Tại các lỗ thang trong phòng, lan can trắng bao quanh phần sàn mở; một số cửa sổ nằm gần ngay những vị trí này.

Góc bếp dưới mái dốc và cửa mở sang phòng bên.Ảnh: Hisao Suzuki

Khung gỗ và lớp vỏ kim loại

Phần trên mặt đất sử dụng kết cấu khung gỗ, kết hợp bê tông cốt thép ở một số bộ phận phía dưới. Mặt cắt thể hiện các cột gỗ tiết diện vuông, hệ dầm và tấm ván kết cấu. Các lớp mái dốc vẫn có cấu tạo riêng khi nằm dưới một phòng khác. Tường và mái được bọc tấm thép mạ hợp kim nhôm kẽm Galvalume, hoàn thiện màu trắng.

Phía sau lớp kim loại có màng bảo vệ, ván nền và vật liệu cách nhiệt. Trên mái, chi tiết chỉ định lớp chống thấm gốc asphalt phía dưới tấm phủ. Bên trong dùng tấm thạch cao gia cường, hoàn thiện sơn, còn sàn phòng dùng ván dán bạch dương phủ lớp bảo vệ trong suốt. Tại một số cửa, bản vẽ chỉ định kính có lưới thép. Các vật liệu này tạo thành các lớp bao kín của từng phòng, tách với phần thang ngoài trời.

Thang đứng dẫn lên ô mở trên mái trong một căn hộ.Ảnh: Hisao Suzuki

Kết cấu dưới đất và nhóm thực hiện

Mặt cắt qua các khối thấp thể hiện phần tầng hầm bằng bê tông cốt thép, với sàn nằm dưới cao độ mặt đất và tường tiếp tục lên chỗ nối với khung nhà phía trên. Trong các phòng thấp, một số đoạn sàn được mở để đặt thang xuống tầng hầm. Hệ chịu lực vì vậy bao gồm cả phần bê tông phía dưới lẫn khung gỗ của các phòng mái dốc.

Jun Sato Structural Engineering phụ trách kết cấu. Nhóm kiến trúc gồm Sou Fujimoto, Koji Aoki, Takahiro Hata và Yoshihiro Nakazono; UBM Corporations là đơn vị thi công. Hồ sơ triển khai có mặt bằng riêng cho tầng hầm và từng tầng nổi, cùng các mặt cắt đi qua các khối chồng nhau. Ở mặt đứng phía bắc, công trình cao gần mười mét; các cửa vào, thang thép và chiếu nghỉ nằm ở nhiều cao độ dọc theo chiều cao đó.

Đọc thêm +