Từ Wisconsin đến Chicago

Frank Lloyd Wright sinh ngày 8 tháng 6 năm 1867 tại Richland Center, bang Wisconsin. Cha ông, William Carey Wright, là mục sư và nhạc sĩ; mẹ ông, Anna Lloyd Jones, là giáo viên, thuộc một gia đình gốc Wales sống gần Spring Green. Gia đình chuyển qua nhiều nơi trước khi định cư ở Madison năm 1878. Sau khi cha mẹ ly hôn, Wright vừa làm việc cho trưởng khoa kỹ thuật của Đại học Wisconsin vừa theo học tại trường. Năm 1887, ông rời Madison đến Chicago để tìm việc trong ngành kiến trúc. [1]

Chicago khi ấy đang phát triển nhanh với những tòa nhà thương mại nhiều tầng và các kỹ thuật xây dựng mới. Wright làm việc tại văn phòng Joseph Lyman Silsbee trước khi chuyển sang Adler & Sullivan vào đầu năm 1888. Ông tham gia công việc họa viên cho Auditorium Building và trở thành trợ lý của Louis Sullivan. Từ Sullivan, Wright tiếp nhận quan điểm về một nền kiến trúc Mỹ gắn với đời sống đương thời và cảnh quan Trung Tây. Đến năm 1893, ông mở văn phòng riêng, nhận nhiều đơn đặt hàng nhà ở tại các vùng ngoại ô Chicago. [2]

Ngôi nhà và xưởng thiết kế ở Oak Park

Năm 1889, Wright xây nhà tại Oak Park cho mình và người vợ đầu, Catherine Tobin. Khoản vay từ Adler & Sullivan giúp ông mua đất. Ngôi nhà ban đầu mang dấu vết của lối kiến trúc Shingle mà ông từng tiếp xúc ở văn phòng Silsbee: kết cấu gỗ, mái dốc và lớp ván ốp ngoài. Các phòng ở tầng trệt được bố trí quanh lò sưởi, nối với nhau bằng những cửa rộng có rèm để điều chỉnh sự riêng tư. Trong hai thập niên sinh sống tại đây, ông nhiều lần sửa đổi ngôi nhà. [3]

Một cánh nhà làm xưởng thiết kế được bổ sung năm 1898. Oak Park trở thành nơi hình thành các phương án cho Larkin Building, Unity Temple và Robie House. Trong xưởng có nhiều cộng sự được đào tạo và hành nghề độc lập, gồm Marion Mahony, Walter Burley Griffin, William Drummond và Isabel Roberts. Công việc còn có sự tham gia của nghệ sĩ, nhà điêu khắc và thợ thủ công. Những cuộc trao đổi trong văn phòng liên quan cả bản vẽ, nghệ thuật và cách tổ chức không gian nhà ở. Hồ sơ của Trust ghi nhận vai trò của tập thể này trong giai đoạn Prairie. [4]

Nhà Prairie và thiết kế nội thất

Trong thập niên đầu thế kỷ XX, Wright phát triển hệ thống nhà Prairie với mái vươn rộng, đường nét ngang và các khối thấp trải theo mặt đất. Ông hoạt động trong một môi trường gồm nhiều kiến trúc sư Trung Tây cùng tìm kiếm hình thức nhà ở khác với những mẫu kiến trúc lịch sử châu Âu. Khái niệm kiến trúc hữu cơ mà Wright sử dụng nói đến mối liên hệ giữa công trình với địa điểm, mục đích sử dụng và thời đại. Vì vậy, Prairie không chỉ là một kiểu mái hay cách trang trí mặt đứng. [5]

Đồ nội thất được Wright thiết kế cùng với ngôi nhà, từ ghế, bàn và tủ đến kính màu và đèn. Tại phòng ăn Oak Park, những ghế lưng cao tạo một khoảng quây quanh bàn trong chính căn phòng lớn. Trong các thiết kế sau, đèn và mặt bàn có thể được nối thành một cấu kiện. Vật liệu, màu kính và đường nét của đồ dùng được lặp lại ở cửa sổ hoặc bề mặt kiến trúc. Wright cũng sử dụng ánh sáng điện khá sớm; ở nhà riêng, bóng đèn được giấu phía trên lớp giấy và lưới gỗ trên trần. [6]

Tranh in Nhật Bản và sự xuất hiện ở châu Âu

Wright đến Nhật Bản lần đầu năm 1905. Album ảnh của chuyến đi được lưu tại Frank Lloyd Wright Trust, cùng thư từ và các tài liệu về hoạt động sưu tập tranh in. Năm 1914, ông trao đổi với người đứng đầu Arts Club of Chicago về việc cho mượn tranh cho một triển lãm; triển lãm diễn ra năm 1917. Kho lưu trữ này cũng giữ các bản thảo, sách hiếm và tư liệu gia đình. Những tài liệu đó cho thấy tranh in Nhật Bản hiện diện trong đời sống và quan hệ nghề nghiệp của ông bên cạnh công việc thiết kế. [7]

Năm 1909, Wright sang châu Âu. Hai ấn phẩm do Wasmuth phát hành giới thiệu rộng rãi công trình của ông: tập năm 1910 gồm các bản in thạch bản, còn tập năm 1911 sử dụng ảnh những dự án đã xây dựng. Triển lãm ở Berlin và các ấn phẩm đưa thiết kế từ Chicago đến một thế hệ kiến trúc sư châu Âu. Tuy vậy, danh tiếng quốc tế không đồng nghĩa với một giai đoạn hành nghề ổn định tại Mỹ. Sự tan vỡ của cuộc hôn nhân đầu và quan hệ với Mamah Borthwick trở thành đề tài báo chí, ảnh hưởng đến vị thế xã hội của Wright. [8]

Taliesin và những năm nhiều biến động

Wright bắt đầu Taliesin năm 1911 trên vùng đất gần Spring Green, nơi gia đình bên ngoại đã sinh sống. Ngôi nhà, xưởng vẽ và trang trại được đặt ở sườn đồi. Năm 1914, một người làm công phóng hỏa khu ở và sát hại bảy người, trong đó có Mamah Borthwick. Wright xây lại phần nhà bị phá hủy; Taliesin II hoàn thành vào năm 1915. Một vụ cháy khác năm 1925 dẫn đến lần xây dựng tiếp theo. Taliesin vì thế là một quần thể được bổ sung và tái thiết qua nhiều giai đoạn, không phải một thiết kế bất biến. [9]

Trong những năm 1920, Wright gặp nhiều khó khăn tài chính và có ít đơn đặt hàng được thực hiện. Sau thời gian giám sát Imperial Hotel tại Nhật Bản, ông trở lại Mỹ năm 1922, thử khôi phục hoạt động tại Los Angeles rồi quay về Taliesin. Ông vẫn duy trì trao đổi với giới kiến trúc châu Âu và xuất bản các nghiên cứu về vật liệu. Năm 1928, Wright kết hôn với Olgivanna Milanoff. Các bài giảng và triển lãm đầu thập niên 1930 đưa công việc của ông trở lại diễn đàn rộng hơn; bản đầu của tự truyện xuất bản năm 1932. [10]

Các thử nghiệm tại Nhật Bản và California

Imperial Hotel ở Tokyo là một đơn đặt hàng lớn trong thời kỳ này. Wright thiết kế một tổ hợp cân xứng, sử dụng bê tông và đá Oya, với nhiều chi tiết chạm khắc. Khách sạn kết hợp yêu cầu tiếp đón theo mô hình phương Tây với vật liệu và năng lực thủ công tại Nhật Bản. Sau khi công trình chính bị tháo dỡ, phần sảnh được giữ lại và dựng lại ở bảo tàng ngoài trời Meiji-Mura. Phần có thể tham quan ngày nay là công trình tái dựng, không phải toàn bộ khách sạn ở vị trí ban đầu. [11]

Tại Los Angeles, Wright thử hệ thống textile block: những viên bê tông đúc có hoa văn được liên kết bằng thanh thép. Ennis House, hoàn thành năm 1924, là ngôi nhà lớn nhất trong bốn công trình loại này của ông tại khu vực. Hệ thống sử dụng vật liệu từ địa điểm để đúc khối, đồng thời tạo một bề mặt trang trí lặp lại ở cả ngoài và trong nhà. Các khối nhà Ennis xếp thành nhiều cao độ trên sườn đồi và có tường chắn lớn. Hình thức này khác rõ với những nhà Prairie thấp, trải ngang của giai đoạn Chicago. [12]

Cộng đồng học nghề và Broadacre City

Năm 1932, Frank và Olgivanna Wright thành lập Taliesin Fellowship. Người học cùng sống và làm việc với gia đình Wright, trước tiên ở Wisconsin rồi thêm cơ sở mùa đông tại Arizona. Việc học diễn ra trong xưởng vẽ và cả khi sửa nhà, thi công, làm vườn, nấu ăn hoặc tổ chức sinh hoạt nghệ thuật. William Wesley Peters và John H. Howe thuộc nhóm đầu tiên, sau này tiếp tục gắn bó lâu dài với công việc của Wright. Fellowship vừa là cộng đồng sinh hoạt vừa là môi trường học nghề, với nhiều công việc thường ngày do thành viên cùng đảm nhiệm. [13]

Cùng thời gian ấy, Wright nghiên cứu Broadacre City, một đề xuất tổ chức lãnh thổ phân tán. Mô hình năm 1934–1935 tập hợp nhà ở, đất canh tác, giao thông và các công trình công cộng thành một cấu trúc đô thị rộng. MoMA lưu giữ mô hình gồm bốn phần này. Đây là một phương án nghiên cứu, không phải thành phố đã được xây dựng. [14]

Những thiết kế về sau và tư liệu để lại

Trong giai đoạn sau, đồ dùng và nội thất vẫn chiếm vị trí đáng kể trong thực hành của Wright. Tại văn phòng riêng của Edgar J. Kaufmann ở Pittsburgh, thiết kế năm 1935–1937, ông dùng ván ép gỗ bách cho tường, trần, sàn và đồ nội thất. Kích thước tấm ván tiêu chuẩn chi phối cách chia không gian. Một mảng trang trí bằng cùng vật liệu nằm sau bàn làm việc. V&A ghi nhận sự cộng tác của nghệ sĩ dệt Loja Saarinen trong phần đồ nội thất và vải bọc. Căn phòng này hiện thuộc bộ sưu tập của bảo tàng. [15]

Wright qua đời năm 1959. Các bản vẽ, thư từ và hồ sơ công trình tiếp tục được nghiên cứu qua nhiều kho lưu trữ. Năm 2012, Avery Architectural & Fine Arts Library thuộc Đại học Columbia và MoMA cùng tiếp nhận Frank Lloyd Wright Foundation Archives. Avery tổ chức tài liệu thành các nhóm theo loại hình, phục vụ việc tra cứu lịch sử thiết kế, các mối quan hệ nghề nghiệp và quá trình thực hiện dự án. Ngoài hồ sơ của cá nhân Wright, những tư liệu này ghi lại hoạt động lâu dài của văn phòng và các cộng sự. [16]

Năm 2019, UNESCO ghi danh tám công trình của Wright thành một di sản nối tiếp, gồm nhà ở, nơi sinh hoạt tôn giáo, bảo tàng và hai quần thể nhà ở kết hợp xưởng làm việc. Danh sách trải từ Unity Temple và Robie House đến Fallingwater, nhà Jacobs và Guggenheim. Các công trình nằm trong những bối cảnh khác nhau: đô thị, ngoại ô, rừng và sa mạc. Hồ sơ di sản xem xét mặt bằng mở, quan hệ trong–ngoài, kỹ thuật và vật liệu như những thành phần liên quan với nhau trong công việc của Wright. [17]