Từ Rotterdam đến London và New York
Rem Koolhaas sinh năm 1944 tại Rotterdam, Hà Lan. Cha ông là nhà văn và từng điều hành một cơ sở văn hóa ở Indonesia. Koolhaas sống tại nước này bốn năm trong thời thơ ấu rồi trở về Hà Lan. Trước khi học kiến trúc, ông làm báo cho Haagse Post tại Den Haag và tham gia viết kịch bản điện ảnh. Những công việc này thuộc giai đoạn khởi đầu sự nghiệp của ông. [1][8]
Năm 1968, Koolhaas theo học tại Architectural Association ở London. Năm 1972, học bổng Harkness đưa ông sang Hoa Kỳ nghiên cứu. Ông học với Oswald Mathias Ungers tại Đại học Cornell trong một năm, sau đó trở thành nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Institute for Architecture and Urban Studies ở New York. Trong thời gian ở New York, ông phát triển công trình viết về Manhattan, xuất bản thành Delirious New York năm 1978. [2]
Exodus và sự thành lập OMA
Năm 1972, Koolhaas cùng Elia Zenghelis, Madelon Vriesendorp và Zoe Zenghelis thực hiện Exodus, or the Voluntary Prisoners of Architecture. Dự án gồm một chuỗi mười tám bản vẽ, tranh màu nước và tranh ghép, mô tả một dải đô thị có tường bao xuyên qua London. Các hình ảnh trình bày một câu chuyện vừa hư cấu vừa gắn với thành phố hiện hữu. MoMA lưu giữ những tác phẩm của dự án và ghi nhận cả bốn người là tác giả; tên dự án liên hệ với tình thế của Tây Berlin trong Chiến tranh Lạnh. [3]
Năm 1975, bốn người thành lập Office for Metropolitan Architecture, viết tắt OMA. Koolhaas phát triển công việc thiết kế và viết sách trong văn phòng này. OMA và nhánh nghiên cứu AMO về sau cùng xuất hiện trong hoạt động của ông, nhưng có phạm vi công việc riêng: công trình kiến trúc, nghiên cứu và các dự án ngoài xây dựng. [1]
Manhattan và hai cuốn sách
Delirious New York ra mắt năm 1978 với phụ đề A Retroactive Manifesto for Manhattan. Cuốn sách xem Manhattan từ giữa thế kỷ XIX như nơi mật độ dân số và công nghệ cùng làm thay đổi đời sống đô thị. Koolhaas gọi hiện tượng này là Culture of Congestion. Nội dung tập trung vào thành phố và những hình thức sinh hoạt được tạo ra trong môi trường tập trung dày đặc, trong mối liên hệ với lịch sử phát triển Manhattan. [4]
S,M,L,XL xuất bản năm 1995, ghi tên OMA, Rem Koolhaas và nhà thiết kế đồ họa Bruce Mau ở phần tác giả. Jennifer Sigler biên tập, Hans Werlemann phụ trách nhiếp ảnh. Sách tập hợp khoảng hai mươi năm hoạt động của văn phòng, sắp xếp dự án theo quy mô từ nhỏ đến rất lớn. Bản được OMA giới thiệu có 1.344 trang, kết hợp tư liệu công trình với nội dung viết và hệ thống trình bày đồ họa. [5]
Công trình tại châu Âu và giải Pritzker
Trong thập niên 1980, OMA triển khai Netherlands Dance Theatre tại Den Haag. Phương án ban đầu gắn với một nhà hát xiếc ở Scheveningen; đến năm 1984, thiết kế được điều chỉnh cho khu Spui trong trung tâm thành phố. Công trình hoàn thành năm 1987. Hồ sơ OMA hiện ghi trạng thái đã phá dỡ. Đây là một dự án biểu diễn nghệ thuật của văn phòng trước các thư viện và bảo tàng được xây dựng sau này. [6]
Năm 1989, OMA nhận quy hoạch Euralille ở Lille, Pháp. Chương trình bao gồm nhà ga TGV, thương mại, văn phòng, nhà ở, khách sạn và các hoạt động hội nghị, biểu diễn trên khu đất 120 hecta. Hồ sơ ghi giai đoạn thực hiện 1989–1994. Năm 2000, Koolhaas nhận Pritzker Architecture Prize. Lễ trao giải diễn ra tại Jerusalem ngày 29 tháng 5; ông là kiến trúc sư Hà Lan đầu tiên nhận giải thưởng này. [7][8]
Nghiên cứu tại Harvard và AMO
Koolhaas được bổ nhiệm giảng dạy tại Harvard Graduate School of Design năm 1995 với chức danh Professor in Practice of Architecture and Urban Design. Project on the City khảo sát những biến đổi của đô thị thông qua nghiên cứu với sinh viên. Các chủ đề gồm vùng châu thổ Châu Giang ở Trung Quốc, hoạt động mua sắm, Rome, Lagos, Moscow và Bắc Kinh. Nghiên cứu về Trung Quốc xuất bản thành Great Leap Forward; nghiên cứu tiêu dùng thành The Harvard Guide to Shopping. [9][10]
AMO là nhánh nghiên cứu gắn với OMA, hoạt động cả trong và ngoài phạm vi thiết kế công trình. Theo tư liệu triển lãm của Nieuwe Instituut, Koolhaas và Dan Wood thành lập AMO năm 1999. Những dự án ban đầu gồm nghiên cứu cho Prada, nhận diện của Cộng đồng châu Âu và các ý tưởng dành cho tạp chí Wired. AMO là tổ chức khác với chương trình Project on the City tại Harvard. [11]
Các chương trình công cộng và thực hành quốc tế
Trong những năm 2000, các dự án có Koolhaas tham gia được hoàn thành tại nhiều quốc gia. Seattle Central Library mở cửa năm 2004, có hệ thống Books Spiral dành cho bộ sưu tập sách. Casa da Música tại Porto hoàn thành năm 2005, gồm khán phòng lớn với hai đầu bằng kính. Hồ sơ OMA ghi Joshua Prince-Ramus cùng phụ trách dự án Seattle, còn Ellen van Loon cùng phụ trách Casa da Música. [20][21]
CCTV Headquarters hoàn thành tại Bắc Kinh năm 2012; De Rotterdam hoàn thành năm 2013 tại khu cảng Wilhelminapier. Các hồ sơ ghi nhiều thành viên phụ trách từng dự án, gồm Ole Scheeren và David Gianotten ở CCTV, Reinier de Graaf và Ellen van Loon ở De Rotterdam. Đến thập niên 2010, công việc tiếp tục với Fondazione Prada tại Milan và Qatar National Library ở Doha, bổ sung các không gian triển lãm và thư viện vào danh mục công trình. [22][23][24][25]
Nội thất thương mại và thiết kế đồ dùng
Prada Epicenter tại New York mở tháng 12 năm 2001 trong không gian từng thuộc Guggenheim ở SoHo. Thiết kế của OMA có một bề mặt gỗ uốn nối tầng đường phố với tầng dưới, hệ trưng bày treo chuyển động trên ray trần và sân khấu có thể mở ra để tổ chức sự kiện. Hồ sơ văn phòng ghi Rem Koolhaas và Ole Scheeren là hai thành viên phụ trách. Cửa hàng kết hợp bán hàng với trưng bày và hoạt động văn hóa. [13][12]
Năm 2013, OMA và Knoll giới thiệu bộ đồ nội thất Tools for Life tại Salone Internazionale del Mobile ở Milan. Bộ gồm mười một sản phẩm, trong đó có 04 Counter, được phát triển nhân kỷ niệm 75 năm Knoll. Các sản phẩm có khả năng thay đổi về hình thức hoặc chức năng cho những hoàn cảnh sử dụng khác nhau. Một số mẫu đã xuất hiện trong buổi trình diễn thời trang nam Prada trước lần ra mắt tại Salone. [14]
Fundamentals và Countryside
Năm 2014, Koolhaas làm giám đốc Triển lãm Kiến trúc Quốc tế lần thứ 14 của La Biennale di Venezia với tên Fundamentals. Chương trình gồm Elements of Architecture, Monditalia và chủ đề Absorbing Modernity 1914–2014 dành cho các gian quốc gia. Elements of Architecture khảo sát những bộ phận như sàn, tường, cửa, mái, cầu thang và thang máy. Bộ mười lăm tập sách đi cùng phần này được phát triển với nhóm nghiên cứu của Harvard Graduate School of Design. [15]
Tháng 2 năm 2020, triển lãm Countryside, The Future mở tại Solomon R. Guggenheim Museum ở New York. Koolhaas và Samir Bantal, giám đốc AMO, cùng thực hiện dự án với các cộng tác viên. Nội dung khảo sát thay đổi môi trường, chính trị và kinh tế xã hội tại vùng nông thôn, khu vực xa đô thị và đất hoang. Phần trưng bày sử dụng không gian vòng xoắn của bảo tàng để giới thiệu nghiên cứu về những lãnh thổ ngoài thành phố. [16]
Các mốc thời gian +
- 1944
Sinh tại Rotterdam, Hà Lan. [1]
- 1968
Theo học Architectural Association tại London. [2]
- 1972
Nhận học bổng Harkness, sang Hoa Kỳ nghiên cứu. [2]
- 1975
Cùng Elia và Zoe Zenghelis, Madelon Vriesendorp thành lập OMA. [1]
- 1978
Xuất bản Delirious New York. [4]
- 1995
Xuất bản S,M,L,XL; bắt đầu giảng dạy tại Harvard GSD. [5][10]
- 1999
Thành lập AMO cùng Dan Wood, theo tư liệu Nieuwe Instituut. [11]
- 2000
Nhận Pritzker Architecture Prize. [8]
- 2004
Seattle Central Library mở cửa ngày 23 tháng 5. [28]
- 2013
Ra mắt Tools for Life với Knoll; hoàn thành De Rotterdam. [14][23]
- 2014
Chỉ đạo Biennale Kiến trúc Venice với chủ đề Fundamentals. [15]
- 2020
Countryside, The Future mở tại Guggenheim New York. [16]









