Rio de Janeiro và những năm đầu làm nghề

Oscar Niemeyer sinh năm 1907 tại Rio de Janeiro. Sau khi hoàn thành bậc trung học, ông kết hôn với Annita Baldo năm 1928 và vào Escola Nacional de Belas Artes năm 1929. Lucio Costa giữ vai trò giám đốc trường trong các năm 1930–1931. Niemeyer nhận bằng kỹ sư kiến trúc năm 1934, rồi bắt đầu làm việc trong văn phòng của Costa năm 1935. [1][2][42]

Năm 1936, Niemeyer tham gia nhóm thiết kế Bộ Giáo dục và Y tế do Costa tổ chức, cùng Carlos Leão, Affonso Eduardo Reidy, Jorge Machado Moreira và Ernani Vasconcelos. Le Corbusier được mời đến Rio với vai trò tư vấn cho nhóm thiết kế. Năm 1937, Niemeyer thực hiện Obra do Berço, công trình đầu tiên của ông được xây dựng. Sau đó, ông cùng Costa tham gia thiết kế gian Brazil tại Hội chợ Thế giới New York năm 1939. [2]

Pampulha: công trình bên hồ và sự cộng tác giữa các nghệ sĩ

Năm 1940, thị trưởng Belo Horizonte, Juscelino Kubitschek, mời Niemeyer tham gia dự án Pampulha. Quần thể được tổ chức quanh một hồ nhân tạo, gồm sòng bạc, nhà khiêu vũ, câu lạc bộ du thuyền và nhà thờ São Francisco de Assis. Đây là một phần của kế hoạch hình thành khu đô thị vườn với các hoạt động văn hóa, giải trí. Kỹ sư Joaquim Cardozo tham gia phát triển kết cấu; Roberto Burle Marx thiết kế cảnh quan; Cândido Portinari và nhiều nghệ sĩ khác thực hiện các thành phần mỹ thuật. [3]

Nhà thờ có hệ vòm bê tông tạo mái và hình dáng chính; tháp chuông đứng riêng, nối với nhà thờ bằng mái che. Portinari thực hiện tranh tường và các mảng gạch men, trong khi Alfredo Ceschiatti và Paulo Werneck cũng tham gia phần mỹ thuật. Pampulha được giới thiệu ra quốc tế qua triển lãm Brazil Builds tại MoMA năm 1943. Năm 2016, UNESCO ghi danh toàn bộ quần thể kiến trúc và cảnh quan này. [4][3]

New York, nhà ở riêng và các công việc thập niên 1950

Năm 1947, Niemeyer trở lại New York để tham gia nhóm thiết kế trụ sở Liên Hợp Quốc. Hội đồng gồm mười kiến trúc sư quốc tế, do Wallace Harrison điều phối. Le Corbusier cũng có mặt trong nhóm. Các phương án được phát triển trong năm 1947, trước giai đoạn xây dựng quần thể từ 1949 đến 1952. [5]

Hồ sơ Pritzker ghi nhận đóng góp của Niemeyer đối với cách bố trí các khối nhà và thiết kế cuối cùng của quần thể Liên Hợp Quốc. [6]

Đầu thập niên 1950, hoạt động của ông diễn ra đồng thời ở nhiều quy mô. Cuốn The Work of Oscar Niemeyer của Stamo Papadaki được xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1950. Năm 1952, ông thiết kế nhà ở riêng trên đường Canoas tại Rio. Hai năm sau, lời mời tham gia khu Hansa trong chương trình tái thiết Berlin đưa ông đến châu Âu; chuyến đi còn qua Ba Lan, Tiệp Khắc và Liên Xô. Chương trình tại Berlin mời ông cùng mười lăm kiến trúc sư quốc tế khác tham gia thiết kế các khối nhà ở. [7]

Brasília: quy hoạch của Costa và các công trình của Niemeyer

Sau khi trở thành tổng thống, Kubitschek mời Niemeyer tham gia xây dựng thủ đô mới. Năm 1956, ông được bổ nhiệm đứng đầu bộ phận quy hoạch và kiến trúc của Novacap, công ty phụ trách việc xây dựng Brasília. Ông tham gia tổ chức cuộc thi lựa chọn đồ án quy hoạch và ban giám khảo. Trong các năm 1957–1958, văn phòng phát triển thiết kế Palácio da Alvorada, Quốc hội, Palácio do Planalto và Tòa án Tối cao. Trước đó, năm 1955, ông đã lập tạp chí Módulo ở Rio để xuất bản các công trình và quan điểm kiến trúc. [8]

Lucio Costa phụ trách đồ án đô thị, còn Niemeyer thiết kế nhiều tòa nhà công quyền chủ chốt. Các khối nhà được đặt trong hệ thống trục, khu hành chính, khu ở và khoảng trống của quy hoạch chung. UNESCO mô tả Brasília như một dự án mà tổ chức đô thị và kiến trúc công trình được phát triển trong mối quan hệ với nhau. [9]

Biến động chính trị và những năm làm việc ở Paris

Niemeyer gia nhập Đảng Cộng sản Brazil năm 1945. Năm 1962, ông được bổ nhiệm điều phối trường kiến trúc của Đại học Brasília mới thành lập. Sau khi quân đội lên nắm quyền năm 1964, tạp chí Módulo bị đình bản. Năm 1965, ông cùng hơn hai trăm giảng viên rời Đại học Brasília để phản đối việc xâm nhập trường và chính sách đại học dưới chính quyền quân sự. Cũng trong năm đó, một triển lãm về công việc của ông được tổ chức tại Louvre ở Paris. [10][11]

Theo niên biểu của Fundação Oscar Niemeyer, ông quyết định định cư tại Paris năm 1967 vì bị cản trở hành nghề ở Brazil. Tổng thống Charles de Gaulle cho phép ông làm việc tại Pháp. Các đơn hàng mở rộng sang trụ sở Đảng Cộng sản Pháp, nhà xuất bản Mondadori ở Italy và Đại học Constantine tại Algeria. Năm 1972, ông mở văn phòng trên đại lộ Champs-Élysées, đồng thời làm các dự án ở Bobigny và Le Havre. Tạp chí Módulo trở lại xuất bản tại Rio năm 1975. [12]

Bản vẽ, kết cấu và đồ nội thất

Hồ sơ thiết kế của Niemeyer được quỹ của ông mô tả trong tài liệu nộp cho UNESCO, bao gồm các phác thảo tìm phương án, hình trình bày ý tưởng, album gửi khách hàng và bộ bản vẽ kỹ thuật. Album thường kết hợp hình vẽ với phần giải thích bằng chữ. Trong bài nói năm 2004, kỹ sư cộng tác José Carlos Sussekind mô tả việc Niemeyer đưa ra phác thảo, giải thích yêu cầu về nhịp, hình dáng và khoảng không; hai người sau đó thảo luận để xác định sơ đồ kết cấu và kích thước cơ bản. [14][13]

Ông cũng thiết kế đồ nội thất cùng con gái Anna Maria Niemeyer. Hồ sơ của quỹ ghi mẫu Marquesa năm 1974 sử dụng gỗ ép uốn cong, sơn đen và mặt mây đan. Ghế bập bênh được ghi niên đại 1977–1978, cũng với kết cấu gỗ uốn và mặt đan. LACMA lưu giữ mẫu Rio Chaise năm 1978, ghi đủ Oscar Niemeyer, Anna Maria Niemeyer và nhà sản xuất Tendo Brasileira. [15][16][17]

Các công trình ở Brazil trong thập niên 1980 và giải Pritzker

Đầu thập niên 1980, Niemeyer thực hiện thêm những chương trình công cộng tại Brazil. Niên biểu của quỹ ghi dự án Passarela do Samba ở Rio năm 1982. Năm 1983, ông làm việc cùng Darcy Ribeiro về hệ thống trường công CIEP, tức các trung tâm giáo dục công cộng tích hợp. Cùng năm, công việc của ông được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Rio de Janeiro và tại Liên Hợp Quốc ở New York. Các hoạt động thiết kế, giáo dục và triển lãm tiếp tục song song trong giai đoạn này. [18]

Năm 1985, ông trở lại phát triển các dự án cho Brasília, trong đó có Panteão da Liberdade. Năm 1987 là các dự án Memorial da América Latina tại São Paulo và trụ sở báo L’Humanité tại Pháp. Năm 1988, Niemeyer nhận giải Pritzker. Đây là năm giải trao cho hai kiến trúc sư riêng biệt: Oscar Niemeyer của Brazil và Gordon Bunshaft của Hoa Kỳ. [19][20]

Bảo tàng, sách và kho lưu trữ những năm cuối đời

Năm 1991, Niemeyer thiết kế Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Niterói; từ năm 1997, ông tiếp tục nghiên cứu chuỗi công trình Caminho Niemeyer cho thành phố này. Ông xuất bản hồi ký As curvas do tempo năm 1998 và tác phẩm hư cấu Diante do nada năm 1999. Sang đầu thế kỷ XXI, các công việc mới gồm bảo tàng ở Curitiba và gian triển lãm tạm thời cho Serpentine tại London năm 2003. [21][22][23]

Năm 2006, quần thể văn hóa của nước Cộng hòa tại Brasília mở cửa, gồm bảo tàng, thư viện, nhà hàng và các hồ nước. Niemeyer qua đời tại Rio de Janeiro ngày 5 tháng 12 năm 2012, ở tuổi 104. [24]

Tư liệu của ông và văn phòng đã được chuyển dần cho Fundação Oscar Niemeyer từ năm 1988. Kho tài liệu giai đoạn 1938–2005 gồm phác thảo, bản vẽ và album trình bày dự án, bao quát cả công trình đã xây lẫn phương án chưa thực hiện. UNESCO ghi danh bộ sưu tập vào danh mục Ký ức Thế giới khu vực năm 2008 và danh mục quốc tế năm 2013. [25]

Tại bảo tàng Curitiba, không gian trưng bày thường trực Espaço Niemeyer tập hợp ảnh, bản vẽ và mô hình các dự án từ năm 1941 đến 2002. Tư liệu được trưng bày ngay trong bảo tàng do Niemeyer thiết kế, ghi lại quá trình thực hiện công trình qua nhiều loại hồ sơ khác nhau. [41]